- Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Bé T - Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C1"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé T .
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 300/2019/QĐ-PT | An Giang, ngày 22 tháng 5 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Công Mười
Ông Trần Xuân Minh
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 55/2018/QĐST - HC ngày 21 tháng 11 năm 2018.
Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; điểm g khoản 1, khoản 2 Điều 143 và Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1978.
Cư trú: số 145, Tổ 04, ấp Đ, xã T1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1983; Cư trú: số 477A Quản Cơ T2, khóm B, phường B1, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C1.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Vũ Minh T3, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:
1. Ông Hồ Hữu L1, chức vụ: Chuyên viên Văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện C1.
2. Ông Đặng Thiên Đ1, chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần X (Eximbank);
Trụ sở: Tầng 8 - Vincom Center, 72 đường L2 và 45A đường L3, phường
B2, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Cục Thi hành án dân sự tỉnh G;
Trụ sở: số 22/22 đường Thánh T4, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
3. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1958;
4. Bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1957,
Cùng cư trú: Tổ 05, ấp A, xã H, huyện C1, tỉnh An Giang.
Tại đơn kháng cáo ngày 28/11/2018, bà Nguyễn Thị Bé T kháng cáo Quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 55/2018/QĐST - HC ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 55/2018/QĐST - HC ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và tiếp tục thụ lý, giải quyết đơn khởi kiện của bà. Thời hiệu khởi kiện phải tính từ ngày 09/5/2018 khi bà biết quyền lợi của bà bị xâm phạm.
XÉT THẤY:
Bà Nguyễn Thị Bé T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02342 QSDĐ/mB, diện tích 6.314m2 do Ủy ban nhân dân huyện C1 cấp cho ông Nguyễn Văn T5 ngày 15/3/2000 với lý do phần đất diện tích 5.007m2, thửa số 303 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02342QSDĐ ngày 15/3/2000 có một phần đất diện tích 100m2 là của bà đã được công nhận quyền sử dụng tại Quyết định số 5636/QĐ.UB ngày 04/7/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang.
Ngày 29 tháng 10 năm 2018, ông Nguyễn Văn P là người đại diện theo ủy
quyền của bà Nguyễn Thị Bé T có Tờ tường trình với nội dung: Việc ông Nguyễn Văn T5 xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T không có ý kiến do bà T đang đi làm ruộng cùng gia đình chị ruột là Nguyễn Thị Kim S ở xa nên bà T không hay biết. Khi bà T biết được nội dung Quyết định số 5636/QĐ.UB ngày 04/7/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang thì thời điểm đó bà T đang được Tòa án nhân dân huyện C1 đưa tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn P với ông Nguyễn Văn T5. Sau đó Tòa án nhân dân huyện C1 cho rằng bà T không liên quan nên đã xóa tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà trong vụ án. Đến ngày 09/5/2018, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất tài sản bị kê biên thi hành án giữa ông P với ông T5 thì bà T mới chính thức biết quyền lợi của bà T bị xâm phạm.
Tuy nhiên, tại Biên bản làm việc ngày 16/12/2016 do Phòng Tài nguyên
Môi trường huyện C1 lập, bà Nguyễn Thị Bé T có trình bày: Khi ông Nguyễn Văn T5 xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà không có ý kiến phản đối. Nội dung Quyết định 5636/QĐ.UB ngày 04/7/1997 của UBND tỉnh An Giang bà đã biết trước thời điểm làm việc khoảng 03 - 04 tháng; Ngoài ra tại buổi làm việc bà đã biết được quyền sử dụng đất trên đã bị kê biên. Điều này thể hiện bà T đã biết ông T5 có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02342 QSDĐ/mB do Ủy ban nhân dân huyện C1 cấp ngày 15/3/2000 từ trước ngày 16/12/2016.
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính
năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được quyết định hành chính. Do đó, ngày 14/4/2018 bà Nguyễn Thị Bé T mới khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là đã hết thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 55/2018/QĐST - HC ngày 21 tháng 11 năm 2018 do thời hiệu khởi kiện đã hết là đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 55/2018/QĐST - HC ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang như đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé T .
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
55/2018/QĐST - HC ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
2. Bà Nguyễn Thị Bé T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000
đồng, được trừ vào số tiền bà Tđã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001589 ngày 07/12/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh G.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; -VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang - Cục THADS tỉnh An Giang; - NKK (1); - NBK (1); - NLQ (4); - Lưu (5) 18b (QĐ - PTHH) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký tên và đóng dấu) Đinh Ngọc Thu Hương |