vanban.org

Quyết định 30/2024/QĐ-TA

TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 23/07/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Thị B.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bàn Thị B có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định này được tống đạt hợp lệ. Cơ quan đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 30/2024/QĐ-TALục Yên, ngày 23 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hà Thị Thu Hương.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 29/2024/QĐ-TA ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Bàn Thị B; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh ngày 16 tháng 3 năm 1987 tại huyện L, tỉnh Yên Bái; CCCD số: 015187013851; ngày cấp 17/5/2023; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quê quán: xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái; trình độ văn hóa: 5/12; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông Bàn Văn V và con bà Hoàng Thị T; tiền án, tiền sự: Không. Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Quốc T1 – Phó trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L, tỉnh Yên Bái.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Bàn Thị B là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 2015. Ngày 13-6-2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định số 492/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Bàn Thị B trong thời gian 01 năm, kể từ ngày 12-6-2024. Ngày 29-6-2024, Công an xã T, huyện L tiến hành xét nghiệm ma túy, xác định Bàn Thị B dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 29-6-2024, của Phòng khám Đ xác định Bàn Thị B nghiện ma túy. Bảng thừa nhận bản thân sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất vào ngày 26-6-2024. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện L đã ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy kể từ ngày 29-6-2024. Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác định nghiện chất ma túy, Bàn Thị B đã không thực hiện thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện L đã lập hồ sơ đề nghị đưa Bàn Thị B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thông báo cho B biết để thực hiện quyền đọc hồ sơ. Sau đó, hồ sơ đã được gửi cho Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L, tỉnh Yên Bái.

Ngày 16-7-2024, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L, tỉnh Yên Bái ban hành Công văn số 28/ĐN-CNBB và chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bàn Thị B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L giữ nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Thị B với thời gian từ 18 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị: Căn cứ Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; Điều 28, 40, 41, 42, 43, 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 và Pháp lệnh số 03/2022/ UBTVQH 15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đề nghị Toà án: Chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Thị B thời gian áp dụng biện pháp: Từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị; đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, có đủ cơ sở để xác định:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Thị B được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thành phần hồ sơ đầy đủ theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Tòa án tiến hành phiên họp.

Theo các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Bàn Thị B là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 2015, ngày 13-6-2024, bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 01 năm. Trong thời gian bị quản lý, B lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện L ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy vì lý do kết quả xác định tình trạng là có nghiện ma túy theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 23 của Luật Phòng, chống ma túy. Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác định nghiện chất ma túy của Trung tâm Y tế huyện L, Bàn Thị B đã không làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện. Hành vi của Bàn Thị B đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, d khoản 1 Điều 33 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ và khoản 1, khoản 3 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy.

Bàn Thị B nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do bản thân nghiện chất ma túy nên cố ý sử dụng. Hành vi này của B đã vi phạm các quy định của pháp luật, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện L lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật và cần thiết. Do vậy, cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn tương xứng để Bàn Thị B có thời gian chữa bệnh, lao động dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Quá trình lập hồ sơ Bàn Thị B đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, cần xem xét cho B hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Thị B là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ các Điều 9, 95, 96, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ các Điều 28, 32 Luật Phòng chống ma túy;

Căn cứ khoản 2 Điều 20, các Điều 23, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Thị B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Bàn Thị B có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định này được tống đạt hợp lệ. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L phối hợp với Công an huyện L có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ