vanban.org

Quyết định 30/2024/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Nhật T"
  • Tòa quyết gì? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
  • Căn cứ chính? Luật Xử lý hành chính; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 30/2024/QĐ-TA.G, ngày 05 tháng 02 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Nguyễn Bích Thiền

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Hồng Duyên

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, Tòa án nhân dân huyện G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/2024/QĐ-TA ngày 01 tháng 02 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Nhật T - Giới tính: Nam. Sinh ngày 20/01/2002.

Căn cước công dân số: 082202006362. Ngày cấp: 24/6/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12.

Nguyên quán: xã T1, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Ấp C, xã T1, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 02 lần.

- Lần 1: Ngày 17/7/2023, bị Công an xã T1 xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 35/QĐ-CAX về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Lần 2: Ngày 18/7/2023, Nguyễn Nhật T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T1 ban hành Quyết định số 208/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 01 năm, tính kể từ ngày 18/7/2023 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Con ông: Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị Đ.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phạm Hồng Phúc - Trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G. Đại diện ủy quyền tham gia phiên họp: Ông Phan Tiến Quân - Chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G:

- Ngày 18/7/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T1 ban hành Quyết định số 208/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Nhật T, thời hạn 01 năm, tính kể từ ngày 18/7/2023 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Đến ngày 16/01/2024, Công an xã T1 nghi vấn đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên mời đối tượng đến trụ sở làm việc và tiến hành test nhanh (nước tiểu), kết quả dương tính với chất ma túy. Quá trình làm việc, đối tượng Nguyễn Nhật T đã thừa nhận có sử dụng chất ma túy, loại ma túy đá, vào ngày 02/01/2024 tại nhà ngụ ấp C, xã T1, huyện G, tỉnh Tiền Giang, với hình thức là hút. Công an xã T1 tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính (Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC ngày 16/01/2024); đồng thời đưa đối tượng đến Trung T y tế huyện G để xác định tình trạng nghiện ma túy, kết quả Nguyễn Nhật T có nghiện ma túy (loại Methamphetamine). Do đối tượng không đăng ký cai nghiện tự nguyện vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T1 ban hành đã Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 16/01/2024 dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Nhật T và giao Công an xã T1 tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021. Trên cơ sở đề nghị của Công an xã T1, ngày 25/01/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T1 ban hành Quyết định số 52/QĐ-QLNN giao đối tượng cho gia đình quản lý trong thời gian tiến hành thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Tại Văn bản đề nghị số 24/ĐN-CNBB ngày 29/01/2024 của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G: Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Nhật T tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang.

Tại phiên họp:

- Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy và khoản 2 Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Nhật T, thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng.

- Người bị đề nghị anh Nguyễn Nhật T vắng mặt, theo lời trình bày của anh có trong hồ sơ: Anh bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2021, loại ma túy anh thường sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine), với hình thức là hút, mỗi tuần anh sử dụng một lần, lần gần đây nhất anh sử dụng ma túy vào ngày 02/01/2024 tại nhà anh, ngụ ấp C, xã T1, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Nhật T, thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền và thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án nhân dân huyện G thụ lý, xem xét hồ sơ là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020). Đảm bảo về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Qua xem xét hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G được lập theo đúng quy định tại các Điều 103, 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Người bị đề nghị Nguyễn Nhật T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh theo quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Theo lời khai nhận của đối tượng Nguyễn Nhật T: Vào ngày 02/01/2024, anh đã sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá (Methamphetamine) với hình thức là hút, tại nhà của anh ngụ ấp C, xã T1, huyện G. Lời khai nhận của anh phù hợp với Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ngày 16/01/2024 của Trung T y tế huyện G; trên cơ sở Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC ngày 16/01/2024 của Công an xã T1, cũng như qua đối chiếu các tài liệu nhân thân của đối tượng đã đủ cơ sở xác định:

Nguyễn Nhật T là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định; không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Xét thấy, đối tượng được tạo điều kiện để tự cai nghiện tại gia đình trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý tại địa phương nhưng không có ý thức tự giác cãi sửa, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm hành chính nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020). Hơn nữa, hiện tình hình tội phạm ma túy đang diễn ra rất phức tạp, là vấn nạn nhức nhối của xã hội. Để giúp đối tượng chữa bệnh, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện; đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống, ngăn ngừa các loại tội phạm về ma túy và các loại tội phạm khác có thể phát sinh, ổn định trật tự xã hội tại địa phương nên cần thiết phải đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy;

- Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

- Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Nhật T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G phối hợp với Công an huyện G đưa Nguyễn Nhật T chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang.

Cỡ chữ