- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HSST Ngày 29-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoài Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Vũ Bằng
2. Ông Hà Văn Quen
Thư ký phiên tòa:Bà Đặng Thị Khánh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P Sinh ngày 20 tháng 03 năm 1994; tại An Giang;
Hộ khẩu thường trú: khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: khóm X, phường Y, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 02/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Cừ, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Tư, sinh năm 1960;Vợ: 1994 (không có đăng ký kết hôn); Con: không có; Anh chị em ruột: có 03 người kể cả bị cáo (lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất bị cáo); tiền sự: không; tiền án: không; Nhân thân: Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Duyên Hải từ ngày 22/6/2023 cho đến nay.
Bị hại: Nguyễn Chí T, sinh năm 1997, có mặt
Nơi cư trú: ấp N, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Chị Lê Thị Thu H sinh năm 1994. vắng mặt
Nơi cư trú: Khóm X, phường Y, thị xã D, tỉnh Trà Vinh
2/ Chị Nguyễn Thị Ngọc N sinh năm 1994. có mặt
Nơi cư trú: ấp M, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
3/ Bà Bùi Thị B sinh năm 1963.vắng mặt
Nơi cư trú: Khóm Z, phường Y, thị xã D, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 20/02/2023 Nguyễn Chí T, sinh năm 1997 và Phạm Văn Tâm, sinh năm 1986 cùng trú ấp N, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; Lê Văn Q, sinh năm 1994 và Hà Minh M, sinh năm 1999 cùng trú ấp M, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; Trần Thanh Tùng, sinh năm 1984 trú khóm 9, phường 9, TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, nơi ở hiện tại ấp M, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và Nguyễn Văn P, sinh năm 1994 trú khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, nơi ở hiện tại khóm X, phường Y, thị xã D, tỉnh Trà Vinh là những người làm thuê cho Công ty chế biến thủy sản Thông Thuận tại Khóm Z, phường Y, thị xã D, tỉnh Trà Vinh đến quán nước kế Công ty chế biến thủy sản Thông Thuận của bà Bùi Thị B sinh năm 1963 trú khóm X, phường Y, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, nơi ở hiện tại Khóm Z, phường Y, thị xã D, tỉnh Trà Vinh để uống nước. Tại đây T, Tâm, Mến, P rủ nhau binh bài sập xám và thỏa thuận nếu ai mà binh bài bị lũng hai bàn sẽ thua trả tiền một chai nước, khi chơi đến bàn thứ hai T phát hiện P binh bài bị lũng, lúc này P đòi lấy bài lên binh lại thì T nói “lũng là lũng chứ không có binh lại, khi chơi đã giao ai binh bài lũng là thua” và còn chửi thề thô tục đối với P nên P có nói lại với T “mày nhỏ mà chửi đụ mẹ, đụ má hoài” rồi giải tán việc chơi đánh bài. Sau đó Tâm, Mến, T lại võng nằm còn P đến gần chỗ T và tiếp tục cự cãi chửi thề qua lại với T, trong lúc cự cãi P mới lấy 01 chai bia bằng thủy tinh nhãn hiệu Larue, màu nâu, bên trong không có nước vẫn còn để trong sọt bia cách vách tường trong quán nước của bà Bùi Thị B 0,4m rồi dùng tay phải cầm chai bia đánh vào vùng đầu của T một cái làm chai bia bị bể, do bị đánh nên T xông vào P rồi cả hai giằng co qua lại với nhau, trong lúc đang giằng co P tiếp tục dùng phần còn lại của cổ chai bia đã bị bể đang còn cầm trên tay phải đâm nhiều nhát theo hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải trúng vào vùng mắt trái, vùng bụng bên trái, vùng nách ngoài bên trái, vùng mặt ngoài cánh tay trái của T gây thương tích. Sự việc xảy ra được mọi người can ngăn và đưa T đi cấp cứu còn P thì bỏ về nơi ở của mình.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với nội dung trên, phù hợp với hiện trường vụ án và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 205/CN-BVCR ngày 02/03/2023 của Bệnh viện Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh ghi nhận tình trạng thương tích khi vào viện của Nguyễn Chí T vào ngày 20/02/2023: Mắt trái (Thị lực bóng bàn tay, sưng bầm mi, vết thương mi dưới khoảng 02cm, kết mạc cương tụ toàn bộ, rách củng mạc hướng 3h, khoảng 01cm, giác mạc trong, tiền phòng xuất huyết ít, đồng tử dãn méo 4mm, Pxas (+), RAPD âm, trương lực nhãn cầu mềm); Vết thương vùng bụng trái đã khâu; Vết thương trên đường nách ngoài bên trái đã khâu; Tay trái (Vết thương mặt ngoài cánh tay, khoảng 2cm)
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 190/2023/KLTTCT-TTPY ngày 06/6/2023 của T tâm Pháp y - Sở Y tế Trà Vinh kết luận:
- Các kết quả chính:
+ Mắt trái: Vỡ nhãn cầu đã khâu. Tỷ lệ: 41%
+ Sẹo nhỏ vùng mi dưới mắt trái. Tỷ lệ: 3%
+ Sẹo T bình vùng bụng bên trái. Tỷ lệ: 2%
+ Sẹo T bình vùng nách ngoài bên trái. Tỷ lệ: 2%
+ Sẹo nhỏ vùng mặt ngoài cánh tay trái. Tỷ lệ: 1%
- Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thế sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Nguyễn Chí T tại thời điểm giám định là 46% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Cơ chế hình thành vết thương trên người của nạn nhân Nguyễn Chí T là:
+ Do ngoại lực tác động trực tiếp
+ Vật gây ra thương tích trên là vật cứng có cạnh sắc
+ Hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải
Quá trình điều tra xác định giữa P và T trước giờ không có mâu thuẫn, chỉ vì trong lúc chơi đánh bài P binh bài bị lũng còn T không cho P binh lại và có chửi thề thô tục, P cho là T nhỏ tuổi mà cứ chửi thề với mình hoài nên P tỏ ra bức xúc đã dùng chai bia thủy tinh đánh và đâm gây thương tích cho T. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây thương tích cho bị hại thì bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại trước một phần do hậu quả mình gây ra; khi xảy ra vụ việc thì bị hại cũng có lỗi là chửi thề thô tục đối với bị cáo trước chỉ vì mâu thuẫn nhỏ; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình nuôi cha, mẹ ruột đã già yếu được chính quyền địa phương xác nhận nên xem xét là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải đã tạm giữ: Nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh của 01 (một) chai bia nhãn hiệu Larue, màu nâu, trong đó có một mảnh vỡ là cổ chai bia có đường kính 2,5cm, phần mảnh vỡ có nhiều góc nhọn đường kính 04cm
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Chí T yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, chi phí đi lại, tiền công lao động kể cả của người nuôi bệnh và tiền tổn hại sức khỏe tổng cộng số tiền 325.998.708 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã tác động bà Lê Thị Thu H bồi thường trước số tiền 50.000.000 đồng, còn lại số tiền 275.998.708 đồng, bị cáo không có khả năng khắc phục. Bà Lê Thị Thu H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 50.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS-HS, ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn P đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Nguyễn Chí T tại phiên tòa sơ thẩm yêu cầu về phần trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Cũng tại phiên tòa hôm nay, vị Kiểm sát viên trình bày bản luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Về phần trách nhiệm dân sự, vị kiểm sát viên đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại và buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 250.000.000 đồng, đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không xem xét. Về vật chứng: Các mãnh vỡ của vỏ chai bia là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Ngoài ra vị kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn P nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ 00 ngày 20/02/2023 tại Khóm Z, phường Y, thị xã D thì Nguyễn Văn P đã có hành vi dùng tay phải cầm chai bia đánh vào vùng đầu của T một cái làm chai bia bị bể, tiếp đó T xông vào nên P tiếp tục dùng cổ chai bia bằng thủy tinh nhãn hiệu Larue, màu nâu đã bị bể có nhiều góc nhọn đâm trúng vào vùng mắt trái, vùng bụng bên trái, vùng nách ngoài bên trái, vùng mặt ngoài cánh tay trái của Nguyễn Chí T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 46%. Như vậy đã có đầy đủ cơ sở quy kết bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình hình sự, nhận thức việc xâm phạm sức khỏe của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị,nhưng với bản chất thích bạo lực khi bị hại và bị cáo có xích mích không đáng có (bị cáo và bị hại cự cãi về việc đánh bài trả tiền nước) mâu thuẩn này là nhỏ nhặc không đáng có, bị cáo và bị hại đều là người làm thuê cho Công ty chế biến thủy sản Thông Thuận tọa lạc tại Khóm Z, phường Y, thị xã D, lẽ ra giữa bị cáo và bị hại chọn con đường hòa giải mâu thuẩn nhỏ nhặc này, đằng này giữa bị cáo và bị hại không lựa chọn việc hòa giải này, bị hại liên tục chửi tục đối với bị cáo làm cho bị cáo không kìm chế được bản thân nên bị cáo P lấy chai bia hiệu Larue màu nâu dù bị cáo biết chai bia là công cụ sắc bén dễ gây thương tích cho người khác, nhưng với bản chất thích bạo lực, bị cáo dùng chai bia đập vào vùng đầu của bị hại T, sau đó chai bia này bị bể, bị hại T xông vào giằng co với bị cáo, trong lúc giằng co bị cáo dùng cổ chai bia bị bể đang còn cầm trên tay và đâm vào vùng mắt trái của bị hại, bị cáo tiếp tục dùng cổ chai bia bị bể đang còn cầm trên tay quơ nhiều nhát vào vùng bụng bên trái, vùng nách bên trái, vùng mặt ngoại của cánh tay trái của bị hại nhằm mục đích gây thương tích cho bị hại. Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 190 ngày 06/6/2023 của T tâm pháp y Sở Y tế Trà Vinh kết luận vết thương trên người của Nguyễn Chí T gồm
+ Mắt trái: Vỡ nhãn cầu đã khâu. Tỷ lệ: 41%
+ Sẹo nhỏ vùng mi dưới mắt trái. Tỷ lệ: 3%
+ Sẹo T bình vùng bụng bên trái. Tỷ lệ: 2%
+ Sẹo T bình vùng nách ngoài bên trái. Tỷ lệ: 2%
+ Sẹo nhỏ vùng mặt ngoài cánh tay trái. Tỷ lệ: 1%
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Nguyễn Chí T tại thời điểm giám định là 46% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư..
Bị cáo đã sử dụng chai bia đây là hung khí nguy hiểm xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại được pháp luật bảo vệ, tỷ lệ thương tật mà bị cáo đã gây ra cho bị hại là 46%, do đó hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần lên một bản án cho bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa những hành vi tương tự.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt không có tiền sự, tiền án, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị cáo đã tác động với gia đình bị cáo để khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha mẹ bị cáo già yếu có xác nhận của chính quyền địa phương đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự .
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại có mặt yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí gồm: tiền chi phí điều trị, tiền chi phí tàu xe, tiền mất thu nhập do năm viện và dưỡng bệnh, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 300.000.000 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã tác động bà Lê Thị Thu H bồi thường trước số tiền 50.000.000 đồng, còn lại số tiền 250.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường các khoản chi phi này cho bị hại, nghĩ nên công nhận sự thỏa thuận nàyvà buộc bị cáo bồi thường cho bị hại với số tiền 250.000.000 đồng.
Chị Hiền là người đưa bị hại số tiền 50.000.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm, chị hiền vắng mặt nhưng trong bản tự khai không yêu cầu bị cáo hoàn trả khoản tiền này nên không xem xét. Đối với chị Ngân là nuôi bệnh cho bị hại, chị Ngân thống nhất khi bị cáo bồi thường các khoản chi phí cho bị hại thì bị hại sẽ chi trả lại cho chị Ngân khoản tiền ngày công lao động, do đó không xem xét
Bà Biền là chủ quán nước tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt, chai bia mà bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại là của bà, tại bản tự khai bà Biền không yêu cầu bị cáo nên không xem xét
Về xử lý vật chứng: Xét thấy các mãnh vỡ của vỏ chai bia là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử thống nhất tịch thu tiêu hủy.
Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt tù từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 06 (Sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22-6-2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585,586, 587, 590 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường cho bị hại Nguyễn Chí T các khoản chi phí gồm tiền chi phí điều trị, tiền chi phí tàu xe, tiền mất thu nhập do nằm viện và dưỡng bệnh, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 250.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không xem xét
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành xong hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy Nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh của 01 (một) chai bia nhãn hiệu Larue, màu nâu, trong đó có một mảnh vỡ là cổ chai bia có đường kính 2,5cm, phần mảnh vỡ có nhiều góc nhọn đường kính 04cm.
Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải noäp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 12.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Án xử sơ thẩm báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thôøi hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Trà Vinh; - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh; - VKSND thị xã Duyên Haỉ; -CCTHADS thị xã Duyên Hải; - Công an thị xã Duyên Hải; - Bị cáo, đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hoài Quốc |