- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Dương Thị H: Tuyên bố chị Vũ Thị C, sinh ngày 11/6/1979; nơi cư trú cuối cùng: Phố B, xã , huyện X, tỉnh Nam Định đã chết kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2000.
- Căn cứ chính? Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:30/2022/QĐST-VDS | Xuân Trường, ngày 05 tháng 8 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Ngọc Quỳnh.
Thư ký phiên họp: bà Trần Thị Kim Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Ông Ngô Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2022/TLST-VDS ngày 18 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 13/2022/QĐST-VDS ngày 28 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Dương Thị H, sinh năm 1951; địa chỉ: Phố B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Vũ Thị C, sinh năm 1979; nơi cư trú cuối cùng: Phố B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
Tại phiên họp: bà H vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, tại bản tự khai, bà Dương Thị H trình bày: Bà và ông Vũ Văn Ư là vợ chồng có với nhau 4 người con đẻ, không có con nuôi. Ông Ư đã chết ngày 01/3/2015. Trong 4 người con của bà có con gái là Vũ Thị C sinh ngày 11/6/1979 bị bắt cóc năm 1994 khi cháu 15 tuổi. Gia đình đã báo Công an và tìm kiếm suốt gần 30 năm nay nhưng không có bất cứ tin tức gì về cháu C là còn sống hay đã chết. Vợ chồng bà có 3 gian nhà ngói và 3 gian nhà mái bằng xây trên thửa đất 150m2 tại Phố B, xã X, huyện X. Đất đã có sổ đỏ mang tên vợ chồng bà. Nay gia đình làm thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất thì có liên quan đến cháu C. Vì thế bà đề nghị Tòa án tuyên bố cháu Vũ Thị C, sinh ngày 11/6/1979 là đã chết để gia đình còn giải quyết các việc khác liên quan đến quyền lợi của cháu C.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của bà Dương Thị H, Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với chị Vũ Thị C, đã nhắn tìm chị Ch trên Đài tiếng nói Việt Nam phát vào các ngày 25, 26, 27 tháng 3 năm 2022, đã nhắn tin trên báo Công Lý 03 số liên tiếp vào vào các ngày 25/3; 29/3 và 01/4 năm 2022, và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao. Đến nay, đã hết 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng việc tìm kiếm chị Vũ Thị C không có kết quả, không có tin tức gì về chị C.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; có đơn đề nghị vắng tại phiên họp nên Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt đương sự là phù hợp.
Về nội dung: Căn cứ các Điều 71, 72 của Bộ luật Dân sự; các Điều 391, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của anh bà Dương Thị H về việc yêu cầu tuyên bố chị Vũ Thị C đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường nhận định:
Về tố tụng: Chị Vũ Thị C là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại phố B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Vũ Thị C là con đẻ của của bà Dương Thị H nên bà Huê là người có quyền yêu cầu tuyên bố chị C đã chết theo quy định tại Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp xét đơn yêu cầu của bà H theo Điều 367 BLTTDS.
Xét yêu cầu của bà Dương Thị H: chị Vũ Thị C bị bắt cóc từ năm 1994, gia đình đã báo Công an địa phương và gia đình bà đã tìm kiếm đến nay 28 năm nhưng không có bất cứ tin tức gì về chị Vũ Thị C.
Tại cơ sở khu phố B, nơi chị C cư trú trước khi biệt tích cư trú trước khi biệt tích cũng xác định từ năm 1994 đến nay thì chị C không có mặt tại địa phương.
Như vậy, chị Vũ Thị C đã biệt tích 28 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Tòa án cũng đã tiến hành các thủ tục tìm kiếm chị C theo quy định của pháp luật nhưng đến nay không có thông tin gì về chị C. Do vậy việc bà Dương Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị C đã chết là có căn cứ nên cần được chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 71 của Bộ luật Dân sự và các điều 388, 391, 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời điểm xác định chị C biệt tích: Theo bà H trình bày và ý kiến tại địa phương nơi cư trú cuối cùng thì chị C không có mặt liên tục tại địa phương từ năm 1994 đến nay. Căn cứ Điều 68, điểm d khoản 1 điều 71 của Bộ luật Dân sự thời điểm chị C biệt tích được xác định là ngày 01/01/1995. Do đó ngày chết của chị C được xác định là ngày 01/01/2000.
Về hậu quả pháp lý của chị Vũ Thị C bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ nhân thân khác, quan hệ về tài sản của chị C được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của chị C được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà H là người cao tuổi đã có đơn xin miễn lệ phí dân sự nên không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 68, 71, 72 của Bộ luật Dân sự; các điều 367, 391, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Dương Thị H: Tuyên bố chị Vũ Thị C, sinh ngày 11/6/1979; nơi cư trú cuối cùng: Phố B, xã , huyện X, tỉnh Nam Định đã chết kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2000.
2. Các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của chị Vũ Thị C được thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự.
3. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Miễn lệ phí dân sự sơ thẩm cho bà H.
4. Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự hoặc quyết định giải quyết việc dân sự được tống đạt hợp lệ.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.
| Nơi nhận: - TAND + VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Xuân Trường; - Đương sự; - UBND xã X; - Lưu HS, VP | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Phạm Ngọc Quỳnh |