vanban.org

Quyết định 30/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1."
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CH1ỂU-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 30/2021/QĐST-HNGĐLiên CH1ểu, ngày 29 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự số 25/2021/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2021 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng H- Sinh năm 1975.

Địa chỉ thường trú: K133/11 Lạc Long Quân, phường Hòa Khánh B, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Địa chỉ liên lạc: Tổ 75 Thanh Vinh 1, phường Hòa Khánh B, quận Liên Ch1ểu, thành phố Đà Nẵng.

- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Như H1 - Sinh năm 1983.

Địa chỉ thường trú: K133/11 Lạc Long Quân, phường Hòa Khánh B, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Địa chỉ liên lạc: K81/34 Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh B, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 3 năm 2021.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được gH1 trong biên bản gH1 nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 3 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1.

Giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/2008, quyển số 02, ngày 05 tháng 3 năm 2008 của Ủy ban nhân dân phường Hòa Khánh B , quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý.

2.2. Về con chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1 xác nhận có 02 con chung tên Nguyễn Trọng D – Sinh ngày 09.10.2008 và Nguyễn Trọng N– Sinh ngày 28.02.2013. Ông H và bà H1 thống nhất thỏa thuận: Ông Nguyễn Trọng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trọng D – Sinh ngày 09.10.2008. Bà Hoàng Thị Như H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trọng N – Sinh ngày 28.02.2013. Hai bên tự nuôi con cho đến khi các con đủ tuổi thành niên (18 tuổi), không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Về tài sản chung: Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1 xác nhận tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.4. Về nợ chung: Nguyễn Trọng H và bà Hoàng Thị Như H1 xác nhận không có nợ chung.

2.5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 150.000 đồng (Một trăm mươi ngàn đồng) Nguyễn Trọng H chịu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng mà ông Huỳnh đã nộp theo biên lai thu số 0004942 ngày 20.01.2021 tại chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Trả lại cho ông Huỳnh số tiền chênh lệch 150.000đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ