vanban.org

Quyết định 30/2021/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Anh Nguyễn Văn V và chị Tạ Thị Thu H. 2.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V và chị Tạ Thị Thu H thuận tình ly hôn. Về con chung: Anh Nguyễn Văn V và chị Tạ Thị Thu H có 02 con chung là Nguyễn Hải N, sinh ngày 03-9-2008 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 11-7-2012. Ly hôn, anh chị thỏa thuận giao cả 02 con chung cho chị Tạ Thị Thu H trực tiếp n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa anh Nguyễn Văn V- chị Tạ Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Anh Nguyễn Văn V và chị Tạ Thị Thu H. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 31 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 30/2021/QĐHG-HNGĐKiến An, ngày 15 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Căn cứ Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Điều 31, Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020; Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 29 tháng 5 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc về ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa:

- Người khởi kiện: Anh Nguyễn Văn V; nơi cư trú: Tổ K 4, phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng;

- Người bị kiện: Chị Tạ Thị Thu H; nơi cư trú: Tổ Q 1, phường P, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Anh Nguyễn Văn V và chị Tạ Thị Thu H. 2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V và chị Tạ Thị Thu H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh Nguyễn Văn V và chị Tạ Thị Thu H có 02 con chung là Nguyễn Hải N, sinh ngày 03-9-2008 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 11-7-2012. Ly hôn, anh chị thỏa thuận giao cả 02 con chung cho chị Tạ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, anh chị thỏa thuận anh Nguyễn Văn V có nghĩa vụ góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ/01 con chung, tổng là 3.000.000đ (ba triệu đồng)/tháng, thời điểm cấp dưỡng nuôi con được tính từ tháng 6/2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Kể từ ngày chị Tạ Thị Thu H có đơn yêu cầu đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng anh Nguyễn Văn V còn phải chịu khoản tiền chậm thanh toán đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị Tạ Thị Thu H và anh Nguyễn Văn V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. 5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ