- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Phương T tranh chấp ly hôn với ông Đào Hoàng A"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Phương T và anh Đào Hoàng A.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 296/2026/QĐST-HNGĐ | Vĩnh Long, ngày 04 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THOẢ THUẬN
CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 354/2026/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2026, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Phương T, sinh ngày 20/3/1992;
Địa chỉ: số G ấp T, xã L, tỉnh Tây Ninh.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Đào Hoàng A, sinh ngày 15/02/1985;
Địa chỉ: số B ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 27 tháng 5 năm 2026.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 27 tháng 5 năm 2026 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Phương T và anh Đào Hoàng A.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về Hôn nhân: Chị Phạm Phương T và anh Đào Hoàng A thuận tình ly hôn. Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
- Về con chung: Chị Phạm Phương T là người trực tiếp nuôi con chung tên Đào Hải N, sinh ngày 02/5/2020 (hiện con chung đang sống chung với chị T). Anh Đào Hoàng A chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Phương T chưa có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Phương T và anh Đào Hoàng A trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng, chị Phạm Phương T tự nguyện chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0007949, ngày 24/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long nên chị PHạm Phương T được hoàn trả số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 9 – Vĩnh Long; - Thi hành án tỉnh Vĩnh Long; - Nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Lê Chí Nhân |