- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Quyết định công nhận kết quả hoà giải thành tại Toà án"
- Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 7 năm 2022, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 295/2022/QĐCNHGT-DS | N, ngày 28 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN
Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành của Ngân hàng T và bà M.
Sau khi nghiên cứu:
- Đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng đề ngày 19 tháng 5 năm 2021 của Ngân hàng T.
- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 7 năm 2022 về việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hòa giải sau đây:
Người khởi kiện: Ngân hàng T; địa chỉ trụ sở: Số 25 Đ, phường P, quận K, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ông V-Chuyên viên Xử lý nợ địa bàn - Ngân hàng T(Giấy uỷ quyền số 7127H/2021/UQ-SeABank ngày 19 tháng 5 năm 2021).
Người bị kiện: Bà M, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn 10, xã C, huyện N, thành phố Hải Phòng.
- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 7 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 12 tháng 7 năm 2022, cụ thể như sau:
- Bà M phải trả cho Ngân hàng T số tiền nợ tính đến hết ngày 12 tháng 7 năm 2022 là 265.091.285 đồng bao gồm số tiền nợ gốc là 262.464.047 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 2.610.815 đồng và số tiền lãi quá hạn là 16.423 đồng.
Kể từ ngày 13 tháng 7 năm 2022 cho đến khi thi hành án xong, bà M còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Phương án trả nợ cụ thể như sau: Bắt đầu từ ngày 28 tháng 7 năm 2022 đến ngày 06 tháng 11 năm 2035 mỗi tháng bà M phải trả cho Ngân hàng T số tiền nợ gốc là 1.620.000 đồng và số tiền nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất mà hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng tín dụng từng lần số 756/2017/HĐTDTL-PGDLC ngày 05 tháng 12 năm 2017 vào ngày 28 hàng tháng. Chậm nhất đến ngày 06 tháng 12 năm 2035 bà M phải trả hết số tiền nợ còn lại (bao gồm số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi trong hạn, số tiền nợ lãi quá hạn và số tiền lãi chậm trả lãi) của của hợp đồng tín dụng từng lần số 756/2017/HĐTDTL-PGDLC ngày 05 tháng 12 năm 2017 cho Ngân hàng T.
- Trường hợp bà M vi phạm bất kỳ kỳ hạn trả nợ nào theo phương án trả nợ nêu trên thì Ngân hàng T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng 269m2 đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 402B tờ bản đồ số 12 tại thôn 10, xã C, huyện N, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 196535, số vào sổ cấp GCN: CH00588 do Uỷ ban nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng cấp ngày 06 tháng 11 năm 2017 cho chủ sử dụng là bà M theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 756/2017/BĐ-PGDLC ngày 05 tháng 12 năm 2017 để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Tthì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là bà M. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Tthì bà M phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng T.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bên tham gia hòa giải; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Lưu TA. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thu Hiền |