vanban.org

Quyết định 294/2021/QĐ-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị B-Lương Văn C"
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Số: 294/2021/QĐ-PT
!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 3 năm 2021

QUYẾT!ĐỊNH!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

!

Với!Hội!đồng!phúc!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà!Nguyễn!Thị!Thu

Các Thẩm phán:

Bà!Võ!Thị!Kim!Thương

Bà!Phạm!Thị!Kim.!

Thư!ký!Tòa!án!ghi!biên!bản!phiên!họp: Bà Đỗ Thanh Thảo Linh.

Đại!diện!Viện!Kiểm!sát!nhân!dân!Thành!phố!Hồ!Chí!Minh!tham!gia!

phiên!họp: Bà Đào Thị Xuân Hồng - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 2059/2020/QĐST-

DS ngày 21 tháng 12 năm 2020 và Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định sơ

thẩm số:73/2021/QĐ-SCBSQĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân

quận D, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào Điều 217, 218, 219, khoản 2 Điều

273, khoản 2 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án dân sự, về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do

xây dựng” giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B.!!

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

1.Ông Lương Văn C;

2.Bà Lương Thị Thu T;

3. Bà Lương Thị Thu H;

4.Bà Lương Thị Thu T1;

5. Bà Lương Thị Thu V;

6. Ông Lương Văn Q;

7.Ông Lương Văn H1;

8. Bà Lương Thị Thu P.

Cùng địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị

H2, sinh năm 1944 (chết năm 2019).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lương Văn C;

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện ủy quyền của ông Chắt có ông Đặng Ngọc L, địa chỉ:

Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền ngày 19/12/2005).

2. Ông Thái Văn H3.

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện ủy quyền của ông H 2 có bà Nguyễn Thị B, Đường A,

Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ngày 20/12/2005).

Tại Đơn kháng cáo đề ngày 23/12/2020 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị

B kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 2059/2020/QĐST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, vì Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

XÉT!THẤY:!

Theo hồ sơ vụ án thể hiện căn nhà số 99/7 Đường A, Phường B, Quận D,

Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị B và ông Thái Văn H3 và căn nhà số 101/10 Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn C (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H.02957 do Ủy ban nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/10/2005). Ngày 28/02/2011 bà H2 và ông C lập Hợp đồng tặng cho căn nhà trên cho ông Lương Văn Q. Tháng 4/2001 bà H2 xây dựng nhà (số 101/10) chặt móng chân tường nhà bà B (số 99/7) làm nứt chân tường, gây hư hỏng nhà gác bằng gỗ ép của nhà bà B. Ngày 13/8/2004 bà B khởi kiện bà H2 yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ngày 03/5/2012 và ngày 22/10/2014 bà B có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung yêu cầu bà H2 trả lại phần không gian mà nhà bà H2 xây dựng lấn chiếm thuộc quyền sử dụng của bà B.

Như vậy, nguyên đơn bà B có 02 yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bồi

thường thiệt hại do xây dựng và yêu cầu trả lại phần không gian bị lấn chiếm. Tuy nhiên, Tòa cấp sơ thẩm chỉ xác định quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xây dựng” là thiếu sót.

Trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án

nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh trưng cầu giám định nguyên nhân gây thiệt hại nhà số 99/7 Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 25/9/2020 Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh ban

hành Quyết định trưng cầu giám định số:1082/2020/QĐ-TCGĐ với nội dung: “Trưng cầu Trung tâm Quản lý nhà và Giám định Xây dựng – G thực hiện giám

định: “Một là, căn nhà số 99/7 có bị chặt móng chân tường bởi việc xây dựng

của căn nhà số 101/10 không. Nếu có, thì xác định nguyên nhân thiệt hại, mức

độ thiệt hại, phương thức sửa chữa và chi phí cho việc sửa chữa khắc phục thiệt

hại đối với căn nhà số 99/7. Và Hai là, căn nhà số 101/10 có lấn không gian nhà

số 99/7 không. Nếu có, thì xác định nguyên nhân thiệt hại, mức độ thiệt hại,

phương thức sửa chữa và chi phí cho việc sửa chữa khắc phục thiệt hại đối với

căn nhà số 99/7. Chi phí giám định sẽ do nguyên đơn bà Nguyễn Thị B tạm nộp

theo quy định”.

Ngày 02/11/2020 Trung tâm Quản lý nhà và Giám định Xây dựng G gửi

Đề cương giám định số:128/QLNGĐXD- TNKD cho Tòa án nhân dân quận D,

Thành phố Hồ Chí Minh, với nội dung:“Theo Quyết định trưng cầu số:

1082/2020/QĐ-TCGĐ ngày 25/9/2020 có nội dung như sau: Một là, căn nhà số

99/7 có bị chặt móng chân tường bởi việc xây dựng của căn nhà số 101/10

không. Nếu có, thì xác định nguyên nhân thiệt hại, mức độ thiệt hại, phương

thức sửa chữa và chi phí cho việc sửa chữa khắc phục thiệt hại đối với căn nhà

số 99/7.

Đối với nội dung này, Trung tâm chỉ thực hiện việc xác định xem căn

nhà số 99/7 có bị chặt móng chân tường bởi việc xây dựng của căn nhà số

101/10 hay không. Còn xác định nguyên nhân thiệt hại, mức độ thiệt hại,

phương thức sửa chữa và chi phí cho việc sửa chữa khắc phục thiệt hại đối với

căn nhà số 99/7 do sự việc xảy ra từ lâu (khoảng năm 2001), từ đó đến nay

công trình đã được tiến hành sửa chữa nên không có cơ sở để xác định.

Hai là, căn nhà số 101/10 có lấn không gian nhà số 99/7 không. Nếu có,

thì xác định nguyên nhân thiệt hại, mức độ thiệt hại, phương thức sửa chữa và

chi phí cho việc sửa chữa khắc phục thiệt hại đối với căn nhà số 99/7.

Nội dung này không thuộc phạm vi giám định xây dựng của Trung tâm

được quy định theo Quyết định số: 3555/QĐ-UBND ngày 07/7/2017 của Ủy

ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, về chức năng nhiệm vụ là “Giám định

chất lượng công trình xây dựng, chất lượng vật liệu và chất lượng sản phẩm xây

dựng. Giám định sự cố công trình xây dựng” nên Trung tâm từ chối thực hiện

nội dung này.

Chi phí thực hiện giám định: là 93.000.000 đồng (Chín mươi ba triệu

đồng”.

Ngày 05/11/2020 Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh ban

hành Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số:1723/2020/TB-DS đối với

bà B.

Ngày 10/11/2020 Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tống

đạt Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số:1723/2020/TB-DS nêu trên

cho bà B. Thời hạn nộp tiền tạm ứng chi phí giám định là 15 ngày, kể từ ngày

nhận được thông báo này. Đến ngày 25/11/2020 bà B vẫn không tạm nộp chi

phí giám định nêu trên nên ngày 21/12/2020 Tòa án nhân dân quận D, Thành

phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 2059/2020/QĐ-DS, với lý do: “Do bà B là nguyên đơn trong vụ án không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng khác (giám định) theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự …”.

Xét, như đã phân tích trên, trong vụ án này nguyên đơn có 02 yêu cầu

khởi kiện:Yêu cầu khởi kiện ban đầu là “Bồi thường thiệt hại do xây dựng” và yêu cầu khởi kiện bổ sung là “Lấn chiếm không gian”. Việc bà B không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định thiệt hại 93.000.000 đồng (Chín mươi ba triệu đồng) là yêu cầu khởi kiện (Bồi thường thiệt hại do xây dựng); Còn yêu cầu khởi kiện bổ sung “Lấn chiếm không gian” không cần tạm ứng chi phí để giám định. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên là không đúng, vì chưa giải quyết yêu cầu “Lấn chiếm không gian” của nguyên đơn bà B.

Mặt khác, tại phần quyết định của Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

dân sự số: 2059/2020/QĐST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có ghi: “2.Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: 2.1. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì:

“Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án dân sự sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”.

Đối chiếu với quy định pháp luật nêu trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ

giải quyết vụ án dân sự với lý do: “Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định” và Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án là “Đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự ” là không đúng. Bởi vì, tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không có quy định trường hợp không nộp tiền chi phí giám định thì đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự, nếu việc khởi kiện vụ án dân sự sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp.

Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy Quyết định đình

chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 2059/2020/QĐST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2020 của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng, kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B là có cơ sở chấp nhận nên Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra, khi Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án, xác định bị

đơn bà Nguyễn Thị H2 (chết năm 2019). Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị H2 là ông Lương Văn C, bà Lương Thị Thu T,

bà Lương Thị Thu H, bà Lương Thị Thu T1, bà Lương Thị Thu V, ông Lương

Văn Q, ông Lương Văn H1 và bà Lương Thị Thu P. Bởi vì, tại đơn khởi kiện

ngày 13/8/2004, ngày 03/5/2012 và ngày 22/10/2014 nguyên đơn khởi kiện bị

đơn là bà Nguyễn Thị H2 chứ không phải khởi kiện bị đơn là ông C, bà T, bà

H, bà T1, bà V, ông Q, ông H1 và bà P.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

dân sự sơ thẩm nên nguyên đơn bà Nguyễn Thị B không phải chịu. Hoàn lại

tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) cho bà B.!

Căn cứ Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT!ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị B.

1.Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số:!2059/2020/QĐST-

DS ngày 21 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí

Minh, giữa:!

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B.!!

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

1.Ông Lương Văn C;

2.Bà Lương Thị Thu T;

3. Bà Lương Thị Thu H;

4.Bà Lương Thị Thu T2;

5. Bà Lương Thị Thu V;

6. Ông Lương Văn Q;

7.Ông Lương Văn H1;

8. Bà Lương Thị Thu P.

Cùng địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị

H2, sinh năm 1944 (chết năm 2019).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lương Văn C;

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện ủy quyền của ông C có ông Đặng Ngọc L, địa chỉ:

Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền

ngày 19/12/2005).

2. Ông Thái Văn H3.

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện ủy quyền của ông H3 có bà Nguyễn Thị B, địa chỉ:

Đường A, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền

ngày 20/12/2005).!

Chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để

tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B không phải chịu. Hoàn lại

cho bà Nguyễn Thị B tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số:0088975!ngày 24/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi!nhận:!

TM.!HỘI!ĐỒNG!PHÚC!THẨM!

- TAND Tối cao;

!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP

- TAND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND TP.HCM;

(Đã!ký)!

- TAND quận D;

- Chi cục THADS quận D;

- Các đương sự;

- Lưu văn phòng;

Nguyễn!Thị!Thu!!

- Lưu hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ