vanban.org

Quyết định 29/2024/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 10/05/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1, giao con chung Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 05/6/2012 cho anh H1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), anh H1 tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Số: 29/2024/QĐST-HNGĐ
Hải Dương, ngày 10 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con”.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đoàn Thị Hương Nhu.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 161/2024/TB-TA ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc: “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số …./2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

Người được chị H ủy quyền về việc giao nhận văn bản: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Y, huyện T, tỉnh Yên Bái.

- Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năn 1989; địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

Người được anh H1 ủy quyền về việc giao nhận văn bản: Anh Phạm Tiến Đ, sinh năm 1999; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1956; địa chỉ: KDC P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

(Các đương sự vắng mặt, có đơn và có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1, cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện K (nay là phường A, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 27/5/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng không có tiếng nói chung. Đến nay mâu thuẫn càng thường xuyên và trầm trọng hơn, không có biện pháp để hàn gắn mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân trong thời gian 3 năm. Nay chị H và anh H1 cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 05/6/2012, hiện cháu D đang ở với bà Nguyễn Thị M1. Chị H và anh H1 cùng thống nhất giao con Nguyễn Mạnh D cho anh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), anh H1 không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con. Trong thời gian anh H1 không có mặt tại Việt Nam, anh ủy quyền cho bà Nguyễn Thị M1 thay anh chăm sóc con Nguyễn Mạnh D cho đến khi anh về nước, chị H nhất trí giao con cho bà M1 nuôi dưỡng trong thời gian anh H1 không có mặt tại Việt Nam.

Về tài sản chung: Anh H1, chị H cùng xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh H1, chị H đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 hiện đang sinh sống tại Đài Loan nên anh, chị ủy quyền cho chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Tiến Đ thay anh, chị giao, nhận các tài liệu tại Tòa án. Chị M và anh Đ nhất trí nhận ủy quyền của chị H, anh H1. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị M và anh Đ đã thông báo cho chị H và anh H1 biết; chị H, anh H1 vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Do điều kiện đi làm ăn xa nên chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án được anh, chị đều có đơn và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị M1 có quan điểm: Đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Mạnh D cho đến khi anh H1 về nước, bà không yêu cầu anh, chị phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Nguyễn Mạnh D và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Con chung của anh H1, chị H là cháu Nguyễn Mạnh D có nguyện vọng được ở với anh H1 và bà M1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ các điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1. Giao con chung Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 05/6/2012 cho anh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên, anh H1 tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu Nguyễn Mạnh D cho bà Nguyễn Thị M1 tiếp tục nuôi dưỡng trong thời gian anh H1 không có mặt ở Việt Nam. Anh H1 và chị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, quan điểm của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Chị H, anh H1 hiện đang lao động tại Đài Loan, nơi cư trú trước khi xuất cảnh: KDC P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết chị H, anh H1, bà M1 đều có đơn và có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Chị H, anh H1 không về Việt Nam tham gia tố tụng nhưng đã gửi đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Các tài liệu này đã được Văn phòng K tại Đ chứng thực. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định nội dung trong các văn bản mà chị H, anh H1 gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng của anh, chị.

Do các đương sự đều đề nghị xin được vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện K (nay là phường A, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 27/5/2011 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H và anh H1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và anh H1.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 05/6/2012. Anh, chị thống nhất thỏa thuận giao con chung Nguyễn Mạnh D cho anh H1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), anh H1 tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Con chung Nguyễn Mạnh D có nguyện vọng được ở với anh H1 và bà M1. Bà M1 nhất trí nuôi dưỡng cháu Nguyễn Mạnh D trong thời gian anh H1 không có mặt tại Việt Nam. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Tạm giao cháu Nguyễn Mạnh D cho bà M1 chăm sóc cho đến khi anh H1 về nước.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H1, chị H không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét giải quyết.

Về lệ phí: Chị H và anh H1 phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1, giao con chung Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 05/6/2012 cho anh H1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), anh H1 tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian anh H1 không có mặt ở Việt Nam, tạm giao con chung Nguyễn Mạnh D cho bà Nguyễn Thị M1 chăm sóc, nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 mỗi người phải chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số 0000567 ngày 03/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do chị Nguyễn Thị M nộp thay). Chị H, anh H1 đã nộp đủ lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ