- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương thuộc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương (địa chỉ: KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương).
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 29/2024/QĐ-TA | Kinh Môn, ngày 15 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƢƠNG
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quyết
2. Thư ký phiên họp: Bà Đoàn Thị Phượng
Ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 22/QĐ-TA ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 28/8/1987; giới tính: Nam; số CCCD/ĐDCN: 030087000463; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa 9/12; nguyên quán: Phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; HKTT và nơi ở: Khu dân cư L, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án: Tại Bản án số 20/2009/HS-ST ngày 05/5/2009, Nguyễn Văn T bị TAND huyện K (Nay là thị xã K) xử phạt 27 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Chưa nộp án phí); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 39/2016/HSST ngày 19/7/2016, Nguyễn Văn T bị TAND huyện K (Nay là thị xã K) xử phạt 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; con bà: Nguyễn Thị T - Vắng mặt tại phiên họp (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Mãi - Trưởng Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thị xã Kinh Môn. Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó trưởng phòng - Có mặt tại phiên họp.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Hoàng Thị Thúy Diệp - Kiểm sát viên- Có mặt tại phiên họp.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Khu dân cư L, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương là đối tượng nghiện ma túy. Từ ngày 12/12/2012 đến ngày 17/9/2024, T điều trị cai nghiên chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại cơ sở Methadone trực thuộc Trung tâm Y tế thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 18/9/2024, tại khu vực bờ sông thuộc khu dân cư L, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Tổ công tác thuộc Công an phường H, thị xã K phát hiện Nguyễn Văn T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Khi thấy tổ công tác đến gần, T bỏ chạy. Ngay lập tức Tổ công tác bắt giữ và mời T về trụ sở Công an phường để làm việc. Công an phường H, thị xã K đã phối hợp với Trạm Y tế phường H tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Văn T. Kết quả, xác định T dương tính với MOP (Morphine). Ngày 20/9/2024, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương có phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy, kết quả: Nguyễn Văn T có nghiện chất ma túy Heroin.
Ngày 20/9/2024, UBND phường H, thị xã K đã giao Nguyễn Văn T cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương để quản lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại Bản tường trình, Biên bản ghi lời khai, Biên bản vi phạm, Nguyễn Văn T xác định: Bản thân T đã nghiện ma túy từ năm 2007. Bản thân đã đăng ký cai nghiện uống Methadone từ năm 2011 và đã được chấp thuận. Tuy nhiên bản thân T vẫn sử dụng ma túy với tần suất 02 ngày 01 lần. Lần gần nhất sử dụng ma túy là sáng ngày 18/9/2024. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, T đi sang khu vực Q thuộc huyện A, thành phố Hải Phòng và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng mục đích mang về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T đi về khu vực bờ sông thuộc khu dân cư L, phường H, thị xã K sử dụng bằng hình thức dùng kim tiêm trích vào cơ thể. Khi thấy Tổ công tác đi đến, T đã vứt bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống sông và bỏ chạy thì bị Tổ công tác bắt giữ.
Tại văn bản số 53/ĐN-CNBB ngày 30/9/2024, Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thị xã Kinh Môn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Tại phiên họp:
Anh Nguyễn Văn T vắng mặt.
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm đã đề nghị. Nay đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc với Nguyễn Văn T theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Kinh Môn đối với Nguyễn Văn T với thời hạn từ 19 đến 22 tháng.
XÉT THẤY:
Tại phiên họp, Nguyễn Văn T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân tiến hành phiên họp vắng mặt đối với Nguyễn Văn T.
Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy, bản thân đã sử dụng ma túy từ năm 2007. Từ ngày 12/12/2012 đến ngày 17/9/2024, T điều trị cai nghiên chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại cơ sở Methadone trực thuộc Trung tâm Y tế thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 18/9/2024, tại khu vực bờ sông thuộc khu dân cư L, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Tổ công tác thuộc Công an phường H phát hiện Nguyễn Văn T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Khi thấy tổ công tác đến gần, T bỏ chạy. Ngay lập tức Tổ công tác bắt giữ và mời về trụ sở Công an phường để làm việc. Sau khi bị bắt giữ, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ sự việc trước đó có sử dụng ma túy (Heroine).
Công an phường H, thị xã K đã phối hợp với Trạm Y tế phường H tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Văn T. Kết quả, xác định T dương tính với MOP. Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương cũng kết luận Nguyễn Văn T có nghiện ma tuý, loại Heroin. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã vi phạm khoản 2 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Ma túy là chất kích thích được Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng… trái phép chất ma túy. Việc sử dụng ma túy có nguy cơ dẫn đến nghiện có tác hại lớn đối với sức khỏe, kinh tế đối với người sử dụng và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó việc cai nghiện ma túy được Nhà nước ta rất quan tâm. Bản thân T cũng đã nhận thức được việc sử dụng ma túy của mình làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội nhưng do ham chơi, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân nên đã sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T được lập theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Kinh Môn có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Kinh Môn; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn và các tài liệu có trong hồ sơ. Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn T là người đã đăng ký cai nghiện tự nguyện tại địa phương. Nhưng trong thời gian cai nghiện tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, xét việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là cần thiết, có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất, mức độ vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với Nguyễn Văn T, thấy rằng: Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy đã nhiều năm. Mặc dù đăng ký cai nghiện ma túy túy tự nguyện tại địa phương nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy gây ảnh hưởng lớn đến gia đình và xã hội. Điều đó chứng tỏ bản thân vẫn chưa thực sự ăn năn, hối cải, chưa nỗ lực để chấm dứt tình trạng lệ thuộc vào ma túy. T là người có nhân thân xấu: đã có 01 tiền án, tại Bản án số 20/2009/HS-ST ngày 05/5/2009, T bị TAND huyện K xử phạt 27 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Đến nay chưa nộp án phí). Ngoài ra, về nhân thân, ngày 19/7/2016, T bị TAND huyện K xử phạt 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 88/QĐ-UBND ngày 22/12/2021, T bị UBND phường H quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 22/12/2021 (Đã chấp hành xong). Như vậy, bản thân T đã nhiều lần được giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học để cải sửa. Vì vậy việc đưa T đi cai nghiện bắt buộc để T tiếp tục có cơ hội được điều trị, học tập, lao động, rèn luyện để chấm dứt tình trạng lệ thuộc vào ma túy. Sau khi bị phát hiện, T đã tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 3, các Điều 8, 20, 21, 23, 24, 31 và 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương thuộc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương (địa chỉ: KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày 20/9/2024.
3. Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Kinh Môn có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị xã K và Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thị xã Kinh Môn có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào sơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - VKSND thị xã Kinh Môn; - Công an thị xã K; - Phòng LĐTB&XH thị xã Kinh Môn; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương; - Công an phường H, thị xã K; - UBND phường H, thị xã K; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Quyết |