- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 10-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiềm Quốc Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sang
2. Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Thoại - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1976 tại Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu N (chết) và bà: Nguyễn Thị V, vợ: Trương Thị Thu N (đã ly hôn), có 01 người con chung sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: Ngày 12/9/2023. (Có mặt).
- Bị hại: Trương Thị Thu N, sinh năm: 1980; Địa chỉ: khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 2002; Địa chỉ: khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
- Người làm chứng: Trương Tài K, sinh năm: 1996; Địa chỉ: khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu T và Trương Thị Thu N có mối quan hệ vợ chồng, cùng sống với con chung tên Nguyễn Trương Hữu P và con riêng của bà N là Nguyễn Hoàng A tại khu vực T, phường P, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Vào ngày 12/4/2023, giữa Nguyễn Hữu T và Trương Thị Thu N xảy ra cãi nhau. Đến khoảng 05 giờ sáng, ngày 13/4/2023, khi bà N đang ngủ trên giường thì T nảy sinh ý định gây thương tích cho bà N nên dùng cây dao Thái Lan cắt vào mặt, mũi của bà N. Lúc này, bà N thức dậy giằng co với T nên làm cho bà N bị thương tích thêm ở vùng cằm và tay.
Trong lúc bị T gây thương tích, bà N truy hô nên Nguyễn Hoàng A đang ngủ ở phòng cạnh bên nghe được. Hoàng A nghĩ rằng nhà có trộm nên lấy cây dao tự chế và chạy ra xem. Khi đến cửa phòng của bà N, Hoàng A nghe tiếng la của bà N nên đẩy cửa phòng vào. Khi vào phòng, Hoàng A thấy T đang đè lên người bà N và thấy trên người bà N dính nhiều máu. Lúc này, Hoàng A yêu cầu T buông bà N ra nhưng T không buông nên Hoàng A dùng dao chém vào lưng của T. Hoàng A tiếp tục yêu cầu T buông bà N ra nhưng T không buông và đè chặt bà N xuống giường nên Hoàng A chém lần thứ hai thì T mới chịu buông bà N ra. Sau đó, Hoàng A đưa bà N đến Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long cấp cứu.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tạm giữ một áo thun ngắn tay màu vàng có logo của Công ty Xổ số kiến thiết Cần Thơ; một quần sọt màu nâu; một gối nằm; một túi xách màu trắng; một cây dao Thái Lan, cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại và một cây dao tự chế, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 322/KLTTCT-TTPYCT ngày 07/6/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế thành phố Cần Thơ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Trương Thị Thu N do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 27%. Các vết thương trên người của bà Trương Thị Thu N phù hợp với cơ chế do vật sắc gây ra.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 304/KLTTCT-TTPYCT ngày 01/6/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế thành phố Cần Thơ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11%. Các vết thương trên người của Nguyễn Hữu T phù hợp với cơ chế do vật sắc gây ra.
Tại Bản kết luận giám định số 16/KLGĐ-KTHS-SV ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Mẫu máu của Trương Thị Thu N thuộc nhóm máu O; mẫu máu của Nguyễn Hữu T thuộc nhóm máu A; trên cây dao Thái Lan cán vàng gửi giám định có máu người và thuộc nhóm máu A, trùng với nhóm máu của Nguyễn Hữu T; trên cây dao kim loại ghi thu tại hiện trường gửi giám định có máu, lượng vết ít không đủ để xác định được máu người hay vật.
Đối với Nguyễn Hoàng A có hành vi dùng dao tự chế gây thương tích cho Nguyễn Hữu T với tỷ lệ thương tích là 11%. Việc Hoàng A nhìn thấy Nguyễn Hữu T đè lên người bà Trương Thị Thu N là mẹ ruột của Hoàng A khi bà N bị ra nhiều máu. Đồng thời, Hoàng A nhiều lần yêu cầu T buông bà N ra nhưng T vẫn tiếp tục khống chế bà N, buộc Hoàng A thực hiện hành vi gây thương tích cho T nhằm để ngăn chặn hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bà N, thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về trách nhiệm dân sự, bị hại Trương Thị Thu N không yêu cầu Nguyễn Hữu T bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.
Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-CR ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Hữu T vẫn thừa nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo chỉ xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để sớm về lo cho gia đình. Đối với việc bị Nguyễn Hoàng A dùng dao gây thương tích thì bị cáo không có yêu cầu xử lý đối với Hoàng A cũng như không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Hoàng A vẫn giữ nguyên lời trình bày như đã khai trong quá trình điều tra.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 04 năm đến 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Đồng thời, Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Còn đối với hành vi dùng dao gây thương tích cho bị cáo Nguyễn Hữu T của Nguyễn Hoàng A thì Kiểm sát viên cho rằng thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng nên việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Hoàng A là phù hợp quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hội đồng xét xử xét thấy, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện một cách nhất quán, đảm bảo tính khách quan, tính liên quan và hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng cũng đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho những người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa hôm nay, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với các chứng cứ và tài liệu thu thập được, đã chứng minh được rằng, vào rạng sáng ngày 13/4/2023, bị cáo Nguyễn Hữu T đã có hành vi dùng dao thái lan là vật sắt nhọn gây thương tích đối với bị hại Trương Thị Thu N. Qua kết luận giám định pháp y thì tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại Trương Thị Thu N tại thời điểm giám định là 27% với các vết thương ở ngang mặt - mũi, cằm và tay. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thích sử dụng bạo lực, xem thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung theo quy định tại đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một xã hội văn minh, mọi người phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, xem pháp luật là thước đo chuẩn mực của đời sống xã hội nhưng bị cáo không thực hiện theo tinh thần, chủ trương đó mà đi ngược lại. Chỉ vì có mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống vợ chồng giữa bị cáo và bị hại thì bị cáo liền chọn cách dùng vũ lực, gây thương tích đối với bị hại để bị hại nghe theo yêu cầu của bị cáo. Do đó, đối với bị cáo cần phải có hình phạt nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng có xem xét đến tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo và bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về phần trách nhiệm dân sự, do bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi dùng dao chém gây thương tích cho bị cáo Nguyễn Hữu T của Nguyễn Hoàng A, Hội đồng xét xử xét thấy, giữa Nguyễn Hoàng A và bị hại Trương Thị Thu N có mối quan hệ mẹ con ruột. Vào rạng sáng ngày 13/4/2023, khi bị cáo T dùng dao gây thương tích cho bà N thì Hoàng A phát hiện nên yêu cầu bị cáo buông bà N ra để đưa bà N đi cấp cứu nhưng bị cáo không thực hiện. Tại thời điểm bị cáo T đè, khống chế bà N để gây thương tích thì bị cáo không còn cầm hung khí nhưng Hoàng A vẫn dùng dao chém bị cáo T nhằm buộc bị cáo buông bà N ra là có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà không thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng như cáo trạng nêu. Tuy nhiên, thương tích của bị cáo T do Hoàng A gây ra chưa đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Hơn nữa, bị cáo T cũng không yêu cầu xử lý hình sự đối với Hoàng A nên việc không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Hoàng A là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/9/2023.
2. Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một áo thun ngắn tay màu vàng có logo của Công ty Xổ số kiến thiết Cần Thơ; một quần sọt màu nâu; một gối nằm; một túi xách màu trắng; một cây dao Thái Lan, cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại và một cây dao tự chế, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại.
3. Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ; - Viện KSND quận Cái Răng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Cái Răng; - Chi cục THADS quận Cái Răng; - Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thiềm Quốc Khanh |