- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thành Ph - Ủy ban nhân dân Phường L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Thành Ph.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 29/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2023 Về “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thi Thu Hiền.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà- Cán bộ Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền-Kiểm sát viên tham gia phiên họp
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 18/2023/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 về “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật”. Theo Quyết định mở phiên họp số 81/2023/QĐMPH-HNGĐ ngày 24/3/2023 và Quyết định hoãn phiên họp số 75/2023/QĐ-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
*Người yêu cầu: Ông Lê Thành Ph, sinh năm 1969.
Địa chỉ trước xuất cảnh: Số 10 Đồng X, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Cộng hòa Séc.
Người được ông Ph ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số 3, phố Đặng M, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy L- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường L.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Nh – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L.
2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1968.
Nơi cư trú cuối cùng: Tập thể nhà máy nhiệt điện L, thành phố L, tỉnh Hải Dương
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, bản tự khai ( có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Séc) và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ – Người yều cầu ông Lê Thành Ph trình bày: Ông và bà Trần Thị H qua môi giới đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L (nay là phường L, thành phố L) tỉnh Hải Dương ngày 10/5/1994. Theo thông tin trong giấy đăng ký kết hôn thể hiện bà Trần Thị H sinh ngày 28/8/1968, có số chứng minh nhân dân là xxxxxxxxx. Do không có thời gian tìm hiểu nên sau khi sang Cộng Hòa Séc ông và bà H không sống chung, mỗi người sống một nơi. Ở Việt Nam ông không biết thân nhân của bà H. Sau đó ông đã nhiều lần tìm bà H tại Cộng Hòa Séc cũng như địa chỉ ở Việt Nam nhưng không có kết quả. Năm 2021 ông đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết ly hôn với bà H. Tuy nhiên, do khi đăng ký kết hôn bà H cung cấp sai thông tin về bản thân nên quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã tiến hành xác minh tại cơ quan có thẩm quyền. Kết quả xác minh cho thấy không có ai tên là Trần Thị H, sinh ngày 28/8/1968 ; CMND số xxxxxxxxx theo như đăng ký kết hôn. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã đình chỉ vụ án. Ông Ph xác định, bà H đã lừa dối ông, cung cấp không đúng thông tin về bản thân nhằm mục đích để đăng ký kết hôn với ông. Thực tế sau khi kết hôn ông hoàn toàn mất liên lạc với bà H. Do vậy ông đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương hủy kết hôn trái pháp luật giữa ông với bà H.
- Người được ông Ph ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng – Bà Phạm Thị Th trình bày : Tháng 10/2022 ông Ph về Việt Nam để làm thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật, do điều kiện không ở lại Việt Nam được nên ông Ph đã ủy quyền cho bà giao, nhận các văn tại Tòa án. Bà Th đồng ý nhận ủy quyền, sau khi nhận văn bản tố tụng, bà đã thông tin cho ông Ph biết. Ông Ph vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :
+ Uỷ ban nhân dân phường L - Người đại diện theo ủy quyền - ông Nguyễn Văn Nh – Phó chủ tịch trình bày : Hiện ở địa Ph không có công dân nào tên Trần Thị H, sinh ngày 28/8/1968, địa chỉ tại khu tập thể nhà máy Nhiệt điện L, thị trấn L (nay là phường L), thành phố L, tỉnh Hải Dương. Theo sổ đăng ký kết hôn năm 1994 tại địa Ph còn lưu giữ cũng thể hiện không có trường hợp đăng ký kết hôn nào có tên Trần Thị H và Lê Thành Ph. Nay ông Ph cho rằng bà H cung cấp sai thông tin cá nhân để kết hôn và đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật, quan điểm của Ủy ban đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị được giải quyết vắng mặt.
+ Do không có thông tin về nơi cư trú của bà Trần Thị H nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua phân tích đánh giá các căn cứ liên quan đến giải quyết vụ việc thì thấy, bà Trần Thị H đưa ra thông tin cá nhân sai sự thật để lừa dối kết hôn với ông Lê Thành Ph. Thực tế giữa ông Ph, bà H không tồn tại hôn nhân nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của ông Ph. Về lệ phí: Ông Lê Thành Ph phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
. Về tố tụng: Ông Lê Thành Ph có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại: Số 10 Đồng X, phường P, thành phố H, hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Séc. Ông Ph có đơn đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật giữa ông với bà Trần Thị H. Bà H có thông tin địa chỉ cuối cùng tại Tập thể nhà máy nhiệt điện L, phường L, thành phố L, tỉnh Hải Dương, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tỉnh Hải Dương.
Ông Lê Thành Ph và người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân phường Phả Lại đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bà Trần Thị H mặc dù đã được niêm yết các văn bản theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung:
Theo giấy đăng ký kết hôn thể hiện, ông Lê Thành Ph, sinh ngày 22/10/1969 có số CMND: xxxxxxxxx và bà Trần Thị H, sinh ngày 28/8/1968 có số CMND: xxxxxxxxx tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 10/5/1994 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L huyện L (nay là phường L, thành phố L), tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên theo sổ đăng ký kết hôn năm 1994 còn lưu giữ tại Ủy ban nhân phường Phả lại thì không có trường hợp nào đăng ký kết hôn có tên Trần Thị H và Lê Thành Ph.
Theo ông Ph trình bày sau khi kết hôn ông và bà H đã sang Cộng Hòa Séc nhưng vợ chồng không chung sống cùng nhau. Tòa án cũng đã có công văn gửi Cục quản lý xuất cảnh – Bộ Công an đề nghị cho biết về việc xuất, nhập cảnh của bà H. Theo thông tin của Cục quản lý xuất nhập cảnh cho biết không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của trường hợp Trần Thị H, sinh ngày 28/8/1968, CMTND số CMND: xxxxxxxxx.
Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại phòng quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Hải Dương. Kết quả xác minh cho thấy, hiện tại công an tỉnh Hải Dương không lưu danh sách cấp giấy CMTND với đầu số CMND xxxxxxxxx. Theo tra cứu ở đội tàng thư căn cước công dân chỉ lưu tờ khai CMTND của bà Trần Thị H, sinh ngày 28/8/1966, số CMND xxxxxxxxx có nơi sinh L, Chí Linh, Hải Dương, có tên bố là Trần Văn P và tên mẹ là Vũ Thị D. Như vậy từ những cung cấp nêu trên thì không có căn cứ xác định trường hợp bà Trần Thị H có ngày tháng năm sinh là ngày 28/8/1968, CMTND số CMND xxxxxxxxx đã xuất cảnh và kết hôn với ông Lê Thành Ph.
Theo ông Ph thực tế sau khi kết hôn ông Ph và bà H không chung sống cùng nhau. Ông Ph cũng không biết thông tin gì của bà H và cũng không thể liên lạc với bà H. Như vậy, việc ông Ph cho rằng khi làm thủ tục đăng ký kết hôn bà H đã lừa dối ông, đưa thông tin cá nhân sai sự thật để nhằm kết hôn với ông Ph là có căn cứ, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của ông Lê Thành Ph.
. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của ông Lê Thành Ph chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 5; Điều 8, Khoản 1 Điều 10, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 1 Điều 37; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Thành Ph.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Lê Thành Ph và bà Trần Thị H.
2. Về lệ phí: Ông Lê Thành Ph phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0003644 ngày 02 tháng 02 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Ông Lê Thành Ph đã nộp đủ lệ phí.
3. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật ./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND phường P; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp ( Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |