vanban.org

Quyết định 289/2021/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Nguyễn Thị Ngọc M đối với anh Nguyễn Tuấn H. Quyền và nghĩa vụ giữa bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Lệ phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Nuôi con nuôi; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 25 Luật Nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 289/2021/QĐST-HNGĐTân Bình, ngày 29 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Cao Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 140/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2021 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 09/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1953; Địa chỉ: đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

- Anh Nguyễn Tuấn H, sinh ngày: 29/6/2000; Địa chỉ: đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 25/02/2021, lời khai của của các đương sự, bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H cùng trình bày: Vào năm 2015, cha mẹ ruột cháu H thường đi công tác xa nhà, không tiện theo dõi việc học tập và sinh hoạt của cháu nên bà M là cô ruột thấy hoàn cảnh như vậy mới đề nghị với ba mẹ ruột cháu để nhận cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày: 29/6/2000 làm con nuôi để lo cho cháu ăn học và đã được Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số: 03/2015, quyển số: 01/2015. Đến nay cháu H đã thành niên, có khả năng lao động để nuôi sống bản thân. Mặc khác, bà M đang gặp khó khăn về kinh tế, không có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H. Vì vậy, bà Myêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày: 29/6/2000. Anh H cũng đồng ý với việc chấm dứt việc nuôi con nuôi với bà M. Bà M và anh H cùng xác nhận, anh H không có tài sản gì và không có đóng góp gì vào tài sản chung của bà M.

Tại phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc M vẫn giữ yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày: 29/6/2000, cháu H không có tài sản chung với bà. Anh Nguyễn Tuấn H đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi với bà M vì anh cho rằng anh đã thành niên, có khả năng lao động để nuôi sống bản thân. Hơn nữa, cha mẹ ruột của anh cũng đã không còn công tác xa nhà nên anh muốn dành nhiều thời gian ở bên cha mẹ ruột. Anh xác định không có tài sản chung với bà Mai. Đại diện Viểm kiểm sát nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Trong quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 48, Điều 361 và Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung việc yêu cầu giải quyết: Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều 26, 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010 để chấp nhận yêu cầu của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Nguyễn Tuấn H có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Bà Mhiện đang cư ngụ tại 281/45/7 Lê Văn Sỹ, Phường 1, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10; Điều 26 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Về yêu cầu của các đương sự: Căn cứ vào Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số: 03/2015, quyển số: 01/2015 do Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/12/2015 thì việc bà Nguyễn Thị Ngọc M nhận anh Nguyễn Tuấn H làm con nuôi là hợp pháp, phù hợp với quy định Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc chấm dứt nuôi con nuôi với anh Nguyễn Tuấn H vì bà cho rằng anh Hđã thành niên, có khả năng lao động để nuôi sống bản thân. Mặc khác, bà đang gặp khó khăn về kinh tế, không có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H. Đồng thời, anh Nguyễn Tuấn H cũng đồng ý chấm dứt làm con nuôi bà Nguyễn Thị Ngọc M. Căn cứ khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì việc nuôi con nuôi chấm dứt khi con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi. Quyền, nghĩa vụ giữa bà Mvà ông Hchấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010 và Điều 78 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H cũng như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở để Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H phải chịu lệ phí là 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 367, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 10, khoản 1 Điều 25, Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010;

Căn cứ Điều 78 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Nguyễn Thị Ngọc M đối với anh Nguyễn Tuấn H. Quyền và nghĩa vụ giữa bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Lệ phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Nguyễn Thị Ngọc M và anh Nguyễn Tuấn H chịu, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Mvà anh Hđã nộp theo biên lai thu số 0069157 ngày 05/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại địa phương. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (Mười ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 Mười lăm ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ