vanban.org

Quyết định 287/2023/DS-GĐT — Dân sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 148/QĐKN-VC3-DS ngày 28/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước đối với vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” giữa nguyên đơn là bà Võ Thị L, bị đơn là bà Trần Thị Quế T. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Bà Võ Thị L kiện bà Trần Thị Quế T về việc "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 148/QĐKN-VC3-DS ngày 28/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 325 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 334 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Quyết định giám đốc thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 287/2023/DS-GĐT
Ngày: 20/112023.
V/v Tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Võ Văn Cường

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thanh Duyên

Ông Hoàng Thanh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Vũ Phương - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu 3, phường LP, thị xã PL, tỉnh Bình Phước.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Quế T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố PV, phường PB, thị xã PL, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Võ Thị L trình bày:

Bà và bà Trần Thị Quế T có mối quan hệ mua bán hạt điều, tính đến ngày 29/01/2022, hai bên thống nhất bà T nợ bà số tiền 5.100.000.000 đồng (năm tỷ một trăm triệu đồng) và tiền lãi là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Như vậy, tổng số tiền bà T phải trả cho bà là 5.400.000.000 đồng (năm tỷ bốn trăm triệu đồng), bà T hẹn sau một tuần sẽ thanh toán cho bà đủ số tiền trên.

Hết thời hạn trên, bà T vẫn không thanh toán cho bà số tiền nợ nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T có trách nhiệm thanh toán cho bà số tiền còn nợ là 5.400.000.000 đồng (năm tỷ bốn trăm triệu đồng). Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T đã thanh toán cho bà số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà T phải tiếp tục thanh toán cho bà số tiền nợ còn lại là 4.400.000.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm triệu đồng).

Bị đơn bà Trần Thị Quế T trình bày:

Bà thống nhất lời trình bày của bà Võ Thị L về việc mua bán hạt điều và thừa nhận còn nợ bà L số tiền là 4.400.000.000 đồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn, bà có nguyện vọng thanh toán cho bà L mỗi tuần từ 300.000.000 đồng (ba trăm triệu) đến 500.000.000 đồng (năm trăm triệu) cho đến khi hết nợ.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022, Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước, đã quyết định: (tóm tắt)

Về số tiền nợ: bà Trần Thị Quế T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị L số tiền 4.400.000.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm triệu đồng).

Thời hạn trả nợ và phương thức trả nợ:

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, mỗi tuần bà Trần Thị Quế T có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị L số tiền từ 300.000.000 đồng (ba trăm triệu) đến 500.000.000 đồng (năm trăm triệu) cho đến khi trả hết số tiền nợ trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị Quế T phải chịu là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu).

Ngoài ra, Quyết định còn ghi nhận quyền yêu cầu thi hành án, hiệu lực thi hành của Quyết định.

Ngày 07/7/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước ban hành Thông báo số 102/TB-VKS-DS đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xem xét quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 148/QĐKN-VC3-DS ngày 28/6/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kháng nghị đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước, đề nghị hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về nội dung kháng nghị nhận định Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước không đưa các chứng cứ liên quan số tiền bà Trần Thị Quế T đã trả và chuyển khoản cho bà Võ Thị L sau khi các đương sự đã hòa giải làm tài liệu chứng cứ của vụ án, xét thấy:

Tại Đơn khởi kiện ngày 31/3/2022, bà Võ Thị L khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị Quế T phải trả cho bà L số tiền bà T đã vay cả vốn và lãi là 5.400.000.000 đồng (năm tỷ bốn trăm triệu đồng). Quá trình thụ lý vụ án, bà T đã viết giấy vay nợ của bà Nguyễn Thị Minh N, (thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước, phụ trách giải quyết vụ việc của bà T và bà L) số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) để trả nợ cho bà L (thực tế thẩm phán N không giao tiền cho bà T mà thẩm phán N lại đưa cho bà L, bà L thừa nhận đã nhận của bà T số tiền 1.000.000.000 đồng). Do đó, ngày 22/4/2022, bà L có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 1.000.000.000 đồng mà bà T đã trả cho bà, bà L tiếp tục yêu cầu bà T trả số tiền 4.400.000.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm triệu đồng). Do bà L và bà T đã thống nhất được số tiền còn nợ và biện pháp trả nợ nên ngày 09/5/2022, Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước đã lập biên bản hòa giải thành ghi nhận bà T có nghĩa vụ trả cho bà L 4.400.000.000 (bốn tỷ bốn trăm triệu đồng).

Trong thời gian hòa giải thành, ngày 29/4/2022, bà T đã giao nộp và được Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước lập biên bản ghi nhận, các đương sự thống nhất bà T đã trả cho bà L số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Ngày 10/5/2022 và ngày 13/5/2022, bà T đã 03 lần chuyển tiền vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Minh N, thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước, tổng cộng số tiền là 420.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi triệu đồng) với nội dung chuyển khoản “Nhờ chị N trả tiền cho chị L”. Tại Bản giải trình ngày 08/11/2023, bà Nguyễn Thị Minh N, thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước xác định bà T đã nộp số tiền 300.000.000 đồng trả cho bà L tại Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước và đã 03 lần chuyển khoản vào tài khoản của bà N tổng cộng số tiền 420.000.000 đồng là sự thật. Như vậy, tính đến thời điểm Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận dân sự sơ thẩm số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022, bà T chỉ còn nợ bà L số tiền là 3.680.000.000 đồng nhưng Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước buộc bà T phải trả cho bà L số tiền 4.400.000.000 đồng, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T.

Đối chiếu các tài liệu, chứng cứ được lưu giữ trong hồ sơ vụ án cho thấy: Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước không đưa các chứng cứ liên quan đến việc bà T đã nộp tiền tại Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước như biên bản giao nộp ngày 29/4/2022, bản sao kê ngân hàng vào làm tài liệu chứng cứ của vụ án theo quy định của pháp luật là thiếu sót nghiêm trọng về tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 93, 94, 95 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung kháng nghị phần án phí dân sự sơ thẩm:

Quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, các đương sự thống nhất số tiền bà T còn nợ bà L là 4.400.000.000 (bốn tỷ bốn trăm triệu đồng), các bên đã tự thỏa thuận được với nhau về phương thức và thời hạn thanh toán nợ. Như vậy, theo quy định tại Khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bà T phải chịu mức án phí bằng ½ trên tổng số án phí phải thi hành là (112.000.000 + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng là 400.000 đồng = 112.400.000 đồng) tương đương số tiền 56.200.000 đồng (năm mươi sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Tuy nhiên, tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận dân sự sơ thẩm số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022, Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước đã quyết định án phí dân sự sơ thẩm bà T phải chịu là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu) là không chính xác.

Do trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thị xã PL chưa thu thập chứng cứ, chưa thực hiện đầy đủ việc chứng minh, dẫn đến công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chưa phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm thống nhất hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước để giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 148/QĐKN-VC3-DS ngày 28/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08A/2022/QĐST-DS ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước đối với vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” giữa nguyên đơn là bà Võ Thị L, bị đơn là bà Trần Thị Quế T.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh Bình Phước xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định pháp luật.

3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định./.

Cỡ chữ