- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "Ngô Tuấn H - Nguyễn Thị Thanh Ng"
- Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1064/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 281/2023/QĐPT-DS | Thành phố H, ngày 14 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Uông Văn Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Hồng Giảng
Ông Lê Ngọc Tường
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1064/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H đã căn cứ Điều 6, Điều 48, Điều 217, Điều 218, khoản 2 Điều 273 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” giữa:
Nguyên đơn: Ông Ngô Tuấn H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: 56 đường B, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Tấn T, sinh năm 1960.
Địa chỉ: 68/14 đường T, phường L, thành phố T, Thành phố H.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh năm 1978.
Địa chỉ: 2/37F Khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trẻ Đoàn Quốc B, sinh năm 2006;
Địa chỉ: 2/37F Khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố H.
- Văn phòng công chứng Đ;
Địa chỉ: 8/1A đường K, xã T, huyện H, Thành phố H.
Tại Đơn kháng cáo đề ngày 15 tháng 12 năm 2022 nguyên đơn - ông Ngô Tuấn H kháng cáo đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1064/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.
XÉT THẤY:
Nhà số 2/37/F Khu phố B, diện tích 86,4m2 thuộc thửa số 172, tờ bản đồ số 7, thị trấn H, huyện H là tài sản chung của vợ chồng ông Đoàn Khắc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh Ng, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2194 ngày 21/7/2009 thay đổi ngày 10/02/2010.
Theo Hợp đồng mua bán chuyển nhượng nhà đất ngày 13/02/2009 giữa ông Đoàn Khắc T1 với ông Ngô Tuấn H thể hiện: ông Đoàn Khắc T1 bán cho ông Ngô Tuấn H căn nhà tại Khu phố B thị trấn H, diện tích 86,4m2 thuộc thửa số 172, tờ bản đồ số 7 tại Khu phố B thị trấn H; ông Đoàn Khắc T1 đã nhận đủ số tiền 850.000.000 đồng và bàn giao nhà cho ông Ngô Tuấn H.
Ngày 20/3/2010 ông Đoàn Khắc T1 chết, ngày 20/3/2017 bà Nguyễn Thị Thanh Ng làm Văn bản khai nhận di sản thừa kế và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai H xác nhận cập nhật tên bà Nguyễn Thị Thanh Ng và trẻ Đoàn Tuấn B trên Giấy chứng nhận vào ngày 05/4/2017.
Ngày 08/7/2022 ông Ngô Tuấn H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố tuyên bố Văn bản khai nhận di sản thừa kế vô hiệu và yêu cầu hủy xác nhận cập nhật tên bà Nguyễn Thị Thanh Ng và trẻ Đoàn Tuấn B trên Giấy chứng nhận.
Xét thấy: Việc bà Nguyễn Thị Thanh Ng khai nhận di sản thừa kế và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai H căn cứ vào Văn bản khai nhận di sản thừa kế để xác nhận cập nhật tên bà Nguyễn Thị Thanh Ng và trẻ Đoàn Tuấn B trên Giấy chứng nhận, trong khi nhà đã được ông Đoàn Khắc T1 bán cho ông Ngô Tuấn H là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông Ngô Tuấn H. Ông Ngô Tuấn H cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố tuyên bố Văn bản khai nhận di sản thừa kế vô hiệu và yêu cầu hủy xác nhận cập nhật tên bà Nguyễn Thị Thanh Ng và trẻ Đoàn Tuấn B trên Giấy chứng nhận là phù hợp với quy định tại Điều 68, Điều 186 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định ông H không cung cấp được chứng minh ông H là người có quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở hợp pháp đối với thửa đất số 172, tờ bản đồ số 7 và căn nhà tại địa chỉ số thừa kế đối với nhà số 2/37/F Khu phố B, thị trấn H, huyện H. Ngoài ra, ông H không cung cấp được chứng minh ông H là người thừa kế theo di chúc hoặc là người thừa kế theo pháp luật của ông Đoàn Khắc T1. Từ đó, cho rằng ông H không có quyền khởi kiện theo điểm a khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, không bảo đảm quyền của đương sự theo quy định tại Điều 68, Điều 186 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1064/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện H giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1064/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.
Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1064/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.
2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện H tiếp tục giải quyết vụ án.
3. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được Tòa án nhân dân huyện H xem xét giải quyết sau khi thụ lý vụ án.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký ban hành.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại TP.H; - VKSND cấp cao tại TP.H; - VKSND TP.H; - TAND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Uông Văn Tuấn |