- Tranh chấp gì? "Bùi Thanh T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh T, sinh năm 1994.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 280/QĐ-TA | TP. Sóc Trăng, ngày 07 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Định
2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Bảo Quốc
Ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 58/QĐ-TA ngày 09 tháng 7 năm 2021, đối với:
Họ và tên: Bùi Thanh T; Giới tính: Nam.
Tên gọi khác là: Đạt
Sinh năm: 1994
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 02/12
Nguyên quán: Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
Hộ khẩu thường trú: Số 44/4 đường Nguyễn Đình C, Khóm 2, Phường 4, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Chổ ở hiện nay: Sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: 03 lần; Lần thứ nhất: vào ngày 11-12-2013 bị Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2013/HSST đến ngày 02-5-2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Lần thứ hai: vào ngày 11-7-2018 bị Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2018/HS-ST đến ngày 09-01-2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Lần thứ ba: vào ngày 20-3-2021 bị Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST đến ngày 20-3-2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Đến lần vi phạm này bị cáo chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Về nhân thân: Người bị đề nghị từng có 01 lần tiền sự vào ngày 20-11-2012 bị Chủ tịch UBND thành phố S áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy taị Quyết định số 1833/QĐHC-UBND đến lần vi phạm này được coi là chưa bị xử lý hành chính.
Con Con ông Bùi Tuấn K và bà Lý Thị Ngọc G.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng K–chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
3. Đại diện Công an Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng : Ông Giang Thanh Truyền-Chiến sỹ.
NHẬN THẤY:
Ngày 03-7-2021, Công an Phường 3, thành phố S tiến hành mời Bùi Thanh T làm việc và tiến hành xét nghiệm chất ma túy. Qua xét nghiệm nước tiểu cho kết quả dương tính với ma túy đá methamphetamin-heroin. Công an Phường 3, thành phố S đề nghị Trạm Y tế Phường 3, thành phố S xác định tình trạng nghiện kết quả xác định Bùi Thanh T có kết quả nghiện chất ma túy đá methamphetamin-heroin. Do đó, Công an Phường 3, thành phố S tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch UBND Phường 3, thành phố S lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại Phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03-7-2021 của Trạm Y tế Phường 3, thành phố S thì Bùi Thanh T có nghiện ma túy loại methamphetamine-heroin.
Tại Công văn số 508/KSBT-AIDS ngày 12-7-2021 của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật-Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng về việc đề nghị tra cứu thông tin người bị đề nghị áp dụng biển pháp xử lý hành chính trả lời Bùi Thanh T không có tham gia điều trị bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm.
Tại Biên bản ghi lời khai của bà Lý Ngọc G và ông Bùi Tuấn K ngày 03-7-2021 thì bà G và ông K trình bày: Bà G và ông K là cha mẹ ruột của Bùi Thanh T, mặc dù Bùi Thanh T có sống chung với gia đình tại Số 44/4 đường Nguyễn Đình C, Khóm 2, Phường 4, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nhưng sau khi chấp hành án xong về sống chung với gia đình thì thường cự cãi với bà G nên bà G không cho T sống chung với gia đình nữa. Từ tháng 5-2021 cho đến nay thì T không còn về gia đình, đi đâu làm gì thì ông bà không rõ.
Ý kiến của người bị đề nghị ông Bùi Thanh T: Thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm và xin giảm thời gian chấp hành.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Bùi Thanh T là người đã đủ 18 tuổi, nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc. Nay đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh T với thời gian là 22 tháng.
Ý kiến của đại diện Công an Phường 3, thành phố S: Thống nhất với cơ quan đề nghị về việc đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh T với thời gian là 22 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý hồ sơ đến phiên họp hôm nay, Tòa án nhân dân thành phố S về trình tự, thủ tục đảm bảo đúng quy định pháp luật và trường hợp của Bùi Thanh T đủ điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh T theo đề nghị của cơ quan đề nghị với thời gian là 22 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp, cũng như ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến Viện kiểm sát, ý kiến của người bị đề nghị, Tòa án nhận định:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Bùi Thanh T đã được lập đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 6, Điều 103 và Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ về việc quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ.
Đối với Bùi Thanh T là người đủ 18 tuổi, nghiện ma túy, mặc dù có đăng ký thường trú Số 44/4 đường Nguyễn Đình C, Khóm 2, Phường 4, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nhưng đã bỏ nhà đi từ tháng 5-2021 sống lang thang, không đăng ký tạm trú tại nơi nào khác nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Luật Cư trú thì T được xác định là không có nơi cư trú ổn định. Do đó, Bùi Thanh T thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1, 2 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ nên đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Xét về nhân thân người bị đề nghị có nhân thân xấu, có 03 lần tiền án chưa được án tích và từng có 01 lần tiền sự vào ngày 20-11-2012 bị Chủ tịch UBND thành phố S áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy taị Quyết định số 1833/QĐHC-UBND đến lần vi phạm này được cơi là chưa bị xử lý hành chính. Tuy nhiên, sau khi vi phạm người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính cần áp dụng cho Bùi Thanh T.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 9; Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Khoản 2 Điều 105, Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính.
Căn cứ vào Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.
Căn cứ vào Khoản 1, 2 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh T, sinh năm 1994.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 22 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động–Thương binh và Xã hội thành phố S phối hợp với Công an nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố S; - Công an thành phố S; - UBND Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; - Công an Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Quốc Định |