vanban.org

Quyết định 28/2026/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 19/01/2026 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị M:

Tuyên bố ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1974; địa chỉ nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Về giám hộ: Chỉ định ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1988; địa chỉ nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng là người giám hộ của ông Huỳnh Văn T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ đối với ông Huỳnh Văn T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị M:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 28/2026/QĐST-DSĐà Nẵng, ngày 19 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức,

làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Ninh Minh Tân.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đức Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Triệu Tin – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 197/2025/TLST-VDS ngày 27/11/2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 33/2025/QĐST-DS ngày 29/12/2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị M, sinh năm 1945; địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Văn T1: Ông Trịnh Văn H, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố Đà Nẵng.

+ Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1977.

+ Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1984.

+ Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1988. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng.

Bà Huỳnh Thị P, bà Huỳnh Thị N và bà Huỳnh Thị H có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 18/11/2025 của bà Bùi Thị M và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Huỳnh Văn T1 tại phiên họp thể hiện: Con bà M là ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1974 từ khi sinh ra đến khi lớn lên phát triển bình thường. Đến năm 2006 phát bệnh tâm thần, sau thời gian điều trị tại bệnh viện tâm thần Quảng Nam nhưng không đỡ và bệnh càng nặng. Huỳnh Văn T1 hiện nay không được minh mẫn, không lao động được, thường xuyên đi lang thang. Vì vậy, bà M yêu cầu tuyên bố ông Huỳnh Văn T1 mất năng lực hành vi dân sự.

Ngày 26/12/2025, bà Bùi Thị M có đơn xin thay đổi yêu cầu giải quyết việc dân sự, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Huỳnh Văn T1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đề nghị Tòa án chỉ định ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1988, trú tại: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng là người giám hộ cho ông Huỳnh Văn T1.

Tại văn bản nêu ý kiến ngày 30/12/2025, các ông, bà: Huỳnh Thị P, Huỳnh Thị N, Huỳnh Thị H và Huỳnh Văn T2 thống nhất với các yêu cầu của bà Bùi Thị M, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Huỳnh Văn T1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định ông Huỳnh Văn T2 là người giám hộ cho ông Huỳnh Văn T1.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Thẩm phán, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm việc dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Thị M, tuyên bố ông Huỳnh Văn T1 là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi; chỉ định ông Huỳnh Văn T2 làm người giám hộ cho ông Huỳnh Văn T1 theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng nhận định:

Bà Bùi Thị M yêu cầu tuyên bố ông Huỳnh Văn T1 là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, đồng thời yêu cầu chỉ định ông Huỳnh Văn T2 là người giám hộ cho ông T1. Bà M, ông T1, ông T2 hiện nay đang cư trú tại thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Xét yêu cầu tuyên bố ông Huỳnh Văn T1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì thấy: Ông Huỳnh Văn T1 là đối tượng người khuyết tật đặc biệt nặng từ 16 – 60 tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo nội dung Quyết định số 5917/QĐ-LĐTBXH ngày 29/7/2024 của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện N, tỉnh Quảng Nam (cũ). Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 10/KLGĐ ngày 05/01/2026 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung kết luận về tình trạng năng lực hành vi dân sự của ông T1: Theo tiêu chuẩn y học: Tâm thần phân liệt thể không biệt định, giai đoạn bệnh thuyên giảm (F20.3-ICD-10); về năng lực hành vi dân sự: Có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà M, tuyên bố ông T1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Đối với yêu cầu chỉ định người giám hộ cho ông T1 thì thấy: Cha ông Huỳnh Văn T1 hiện nay đã chết. Ông T1 không có vợ, con. Từ trước đến nay ông T1 sinh sống cùng gia đình gồm bà Bùi Thị M (là mẹ ruột), ông Huỳnh Văn T2 (là em ruột) tại thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng. Tại văn bản nêu ý kiến của các chị, em ruột trong gia đình bà M thống nhất để ông Huỳnh Văn T2 là người giám hộ hợp pháp của ông T1 theo quy định của pháp luật. Xét thấy, ông T2 có đủ các điều kiện là người giám hộ cho ông T1 và chỉ định ông T2 làm người giám hộ cho ông T1 là phù hợp. Ông T2 thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tại phiên họp là phù hợp với các nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Bà Bùi Thị M thuộc trường hợp được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 23, 46, 54, 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27, các Điều 35, 149, 376, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị M:

Tuyên bố ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1974; địa chỉ nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Về giám hộ: Chỉ định ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1988; địa chỉ nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng là người giám hộ của ông Huỳnh Văn T1.

Ông Huỳnh Văn T2 có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, 58, 59 Bộ luật dân sự, cụ thể:

Người giám hộ có các quyền: Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ; được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ; đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Người giám hộ có các nghĩa vụ: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ; đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự; quản lý tài sản của người được giám hộ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Bùi Thị M được miễn lệ phí theo quy định.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Huỳnh Văn T2 có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 19/01/2026). Bà Bùi Thị M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ