- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Ngọc T khởi kiện ly hôn anh Ngô Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc T được ly hôn anh Ngô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2019/HNGĐ-ST Ngày 12-6-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tỵ
2. Bà Nguyễn Thị Lợi.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc T, nơi cư trú: Số 341 Lô 22, cụm 9, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Ngô Văn T, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Hiện đang thi hành án tại: Đội 29, Phân trại 3, Trại giam H (địa chỉ: xã V, thành phố C, tỉnh Hải Dương); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2019 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Ngô Văn T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 10 năm 2011. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra va chạm, cãi nhau và mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Cuối năm 2013, anh T vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại Trại giam H. Trong suốt thời gian anh T chấp hành án tại Trại giam H chị chưa lần nào đến thăm anh T vì tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Tâm N sinh ngày 07 tháng 3 năm 2012, ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 21 tháng 5 năm 2019 bị đơn anh Ngô Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng như lời khai chị T đã trình bày ở trên. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn nhỏ và hay xẩy ra cãi nhau. Nay chị T xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của chị T, anh không muốn vợ chồng ly hôn vì con chung còn nhỏ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị Trần Ngọc T trình bày, trường hợp vợ chồng ly hôn anh Thành đề nghị Tòa án giao con chung Ngô Tâm N cho chị T nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Ngô Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ quy định tại Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Trần Ngọc T được ly hôn anh Ngô Văn T; về con chung: Giao con chung Ngô Tâm N sinh ngày 07 tháng 3 năm 2012 cho chị Trần Ngọc T nuôi dưỡng sau ly hôn; việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: không xem xét giải quyết; về án phí: Chị Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Trần Ngọc T và bị đơn anh Ngô Văn T vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Chị Trần Ngọc T và anh Ngô Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 10 năm 2011, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra va chạm, cãi nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị T có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Trần Ngọc T và anh Ngô Văn T có 01 con chung là Ngô Tâm N sinh ngày 07 tháng 3 năm 2012. Căn cứ vào điều kiện nuôi dưỡng con chung và quan điểm của các đương sự, cần giao con chung cho chị T nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Ngọc T và anh Ngô Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Ngọc T và anh Ngô Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc T được ly hôn anh Ngô Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung Ngô Tâm N sinh ngày 07 tháng 3 năm 2012 cho chị Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Trần Ngọc T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004189 ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, T.P Hải Phòng; - UBND xã A, huyện A, T.P Hải Phòng; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |