vanban.org

Quyết định 28/2019/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong; bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/DS- PT
Ngày 29/3/2019.
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính.

Ông Nguyễn Đắc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa: Ông Vũ Viết Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29/3/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BN xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/TLPT- DS ngày 23 tháng 01 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do bản án sơ thẩm số 13/2018/DSST, ngày 27/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện GB bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 44/2019/QĐ- PT ngày 11/3/2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1959. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn GP, xã BD, huyện GB, tỉnh BN.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Hoàng Kim Th; ông Nguyễn Thế H; Bà Nguyễn Thị T– Luật sư - Công ty luật TNHH một thành viên QTC, đoàn luật sư thành phố HN. (Bà Th, bà T có mặt; ông H vắng mặt).

* Bị đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1965. Có mặt.

Anh Lưu Văn H, sinh năm 1963. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã BD, huyện GB, tỉnh BN.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Anh Ph, luật sư công ty luật trách nhiệm hữu hạn Anh Phương, đoàn luật sư thành phố HN. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đình A, sinh năm 1960 và chị Trần Thị C, sinh năm 1962. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn GP, xã BD, huyện GB, tỉnh BN.

Người kháng cáo: Chị Lê Thị T, anh Lưu Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn là bà Trần Thị Đ trình bày: Ngày 09/3/2016 âm lịch bà có cho anh Lưu Văn H và chị Lê Thị T vay số tiền 110.000.000đ. Khi vay giữa hai bên có viết giấy biên nhận và có thỏa thuận lãi suất là 1,5%/tháng nhưng không thỏa thuận thời hạn trả nợ mà thỏa thuận miệng với nhau. Trước khi bà khởi kiện đến Tòa án bà đã nhiều lần đến đòi tiền anh H2, chị T2 xong anh H2, chị T2 không trả bà. Nay bà khởi kiện ra Tòa án đề nghị Tòa án buộc anh H2, chị T2 phải trả bà số tiền gốc đã vay là 110.000.000đ và tiền lãi chốt đến ngày 09/6/2018 là 9.900.000đ và lãi của số tiền gốc tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 3.575.000đ, tổng cộng số tiền lãi là 13.475.000đ. Chị T2, anh H2 xin trả nợ gốc dần và xin không phải trả lãi bà không đồng ý.

Bị đơn là chị Lê Thị T, anh Lưu Văn H trình bày: Anh chị thừa nhận có vay bà Đ số tiền 110.000.000đ như bà Đ trình bày. Anh chị cũng đồng ý trả bà Đ số tiền gốc là 110.000.000đ và 13.475.000đ tiền lãi như bà Đ yêu cầu nhưng xin trả dần tiền gốc và xin giảm lãi suất vì hiện nay anh chị đang khó khăn.

Anh chị không đồng ý quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01 ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện GB. Vì thửa đất mà Tòa án áp dụng để phong tỏa chị làm hợp đồng chuyển nhượng cho anh An, chị Cận vào ngày 09/7/2018 và đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Chị cũng đã nhận tiền đầy đủ của anh An, chị Cận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Đình A và chị Trần Thị C trình bày: Ngày 09/7/2018, anh chị nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 475, tờ bản đồ số 15, diện tích 200m2 của anh H2, chị T2 và anh chị cũng đã trả đủ số tiền cho anh H2, chị T2. Sau đó, anh có đến Văn phòng đăng ký đất đai huyện GB làm thủ tục sang tên thì được biết thửa đất mà anh chị mua của anh H2, chị T2 đã bị Tòa án nhân dân huyện GB áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong tỏa tài sản. Anh chị đề nghị Tòa án xem xét quyết định này vì tài sản này anh chị đã mua hợp pháp của anh H2, chị T2.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm đã áp dụng các điều 26, 35, 39, 91, 144, 147, 235, 239, 248, 249, 260, 261, 262, 264, 266, 267, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 357, 463, 466, 468 và 469 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc chị Lê Thị T và anh Lưu Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Đ số tiền vay là 110.000.000đ và tiền lãi 13.475.000đ tổng cộng là 123.475.000đ .

Trả cho bà Trần Thị Đ 01 sổ tiết kiệm số 000.1147.3578 ngày 26/8/2018 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện GB.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/10/2018, chị Lê Thị T, anh Lưu Văn H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà hôm nay, bà Trần Thị Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và tự nguyện đề nghị Tòa án trừ 1.600.000đ tiền lãi cho chị Lê Thị T, anh Lưu Văn H, chị Lê Thị T, anh Lưu Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS xử: Sửa một phần bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay thì thấy:

Ngày 09/3/2016 âm lịch, chị Lê Thị T, anh Lưu Văn H có vay của bà Trần Thị Đ số tiền 110.000.000đ. Khi vay giữa hai bên có viết giấy biên nhận và thỏa thuận lãi suất là 1,5%/tháng. Hai bên không thỏa thuận thời hạn trả nợ. Khi cần đến tiền bà Đ đã nhiều lần đến đòi anh H2, chị T2 tiền xong anh H2, chị T2 không trả. Do vậy bà đã khởi kiện ra Tòa án và đề nghị Tòa án buộc anh H2, chị T2 trả cho bà số tiền gốc là 110.000.000đ và lãi tính đến ngày 09/6/2018 mà hai bên đã chốt là 9.900.000đ và lãi từ ngày 10/6/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm là 3.475.000đ. Tổng cộng lãi là 13.475.000đ. Phía chị T2, anh H2 cũng thừa nhận số tiền nợ gốc và lãi nhưng xin trả nợ gốc dần và xin giảm lãi nhưng bà Đ không đồng ý. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử buộc anh H2, chị T2 phải trả cho bà Đ số tiền gốc và lãi tổng cộng là 123.475.000đ là đúng quy định của pháp luật. Bởi anh H2, chị T2 đều thừa nhận số nợ như bà Đ đã yêu cầu nhưng xin trả nợ dần còn phía bà Đ không đồng ý vì đã đòi chị T2, anh H2 nhiều lần nhưng chị T2 anh H2 không trả. Do vậy anh H2, chị T2 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án vì vụ án không đủ điều kiện khởi kiện nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn thụ lý và giải quyết là không có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phía bà Đ tự nguyện trừ cho chị T2, anh H2 số tiền 1.600.000đ, xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, cần chấp nhận, do vậy, cần sửa một phần bản án sơ thẩm xử.

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cũng có một số lỗi cần rút kinh nghiệm trong vụ án này như bản án, biên bản nghị án, biên bản phiên toàn không đóng dấu giáp lai; bản sao có chữ ký của thẩm phán giải quyết vụ án nhưng không đóng dấu quốc huy cũng như dấu chức danh; biện pháp khẩn cấp tạm thời là một biện pháp riêng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định trong bản án và tuyên trả sổ tiết kiệm cho người đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng. Hơn nữa khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Tòa án cấp sơ thẩm đã không áp dụng đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như không yêu cầu người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tiền vào tài khoản bảo đảm mà lại yêu cầu họ nộp tiền vào sổ tiết kiệm; khi yêu cầu họ nộp tiền bảo đảm không có căn cứ gì để ấn định số tiền nộp. Khi có kháng cáo của anh H2, chị T2 Tòa án cấp sơ thẩm chỉ yêu cầu hai người cùng nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là không đúng mà phải yêu cầu mỗi người nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Vì thế, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Về án phí: Do kháng cáo của chị Lê Thị T, anh Lưu Văn H không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, chị T2, anh H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Sửa một phần bản án sơ thẩm, xử:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 144, 147, 235, 239, 248, 249, 260, 261, 262, 264, 266, 267, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 357, 463, 466, 468 và 469 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc chị Lê Thị T và anh Lưu Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Đ số tiền vay là 110 triệu đồng và tiền lãi 11.875.000. Tổng cộng là 121.875.000đ. (một trăm hai mốt triệu, tám trăm bảy năm ngàn đồng chẵn).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong; bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Án phí: Chị Lê Thị T và anh Lưu Văn H phải chịu 6.093.700đ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ 300.000đ chị T2 đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001441 ngày 05/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện GB. Chị T2, anh H2 còn phải nộp 5.793.700đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho bà Trần Thị Đ 2.997.500đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001361 ngày 09/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện GB, tỉnh BN.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ