vanban.org

Quyết định 271/2024/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 11/04/2024 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị C;

giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 50/2023/QĐST-HC ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. 2- Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị C được miễn nộp án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị Ch kiện Chủ tịch UBND tỉnh Binh Th"
  • Tòa quyết gì? 1- Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị C;
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 165 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 271/2024/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Đình Thanh

Các thẩm phán: Ông Ngô Mạnh Cường

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên họp: Bà Phan Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên họp: Ông Vũ Thanh Sơn – Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số:

50/2023/QĐST-HC ngày 15 tháng 8 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã căn cứ vào Điều 143, Điều 144, Điều 165 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện hành vi hành chính về việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai”; giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1955; địa chỉ: Khu phố

N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Vũ Quốc V,

sinh năm 1957; địa chỉ: Công ty L1, số A, Đường L, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bình Thuận;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Luật sư Lê

Văn L – Hội Luật gia tỉnh B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chủ tịch UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận;

2. UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận (sau đây gọi tắt là UBND huyện H);

Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện H và Chủ tịch UBND

huyện H: Ông Nguyễn Văn P – Phó Chủ tịch UBND huyện H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện H và Chủ tịch

UBND huyện H:

+ Bà Đặng Thị Hoàng Y – Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất

huyện H;

+ Bà Đỗ Thị T – Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện

H.

3. Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (sau đây gọi tắt

là thị trấn T);

4. UBND thị trấn T;

Người đại diện theo pháp luật của Chủ tịch UBND thị trấn T và UBND

thị trấn T: Ông Võ Hùng C1 – Chủ tịch UBND thị trấn T.

Tại Đơn kháng cáo ngày 16/8/2023 và Đơn kháng cáo bổ sung ngày

30/9/2023, người khởi kiện bà Nguyễn Thị C và người đại diện theo ủy quyền của bà C là ông Vũ Quốc V yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 50/2023/QĐST-HC ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận với lý do: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hành chính quy định tại Điều 53 Luật Tố tụng hành chính, làm sai lệch hồ sơ vụ án, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trái pháp luật.

XÉT THẤY:

[1] Trong vụ án này, người khởi kiện bà Nguyễn Thị C khởi kiện vụ án

hành chính yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tuyên bố hành vi hành chính không giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh B là hành vi hành chính trái pháp luật và buộc Chủ tịch UBND tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật, với lý do:

[1.1] Ngày 15/12/2014, bà Nguyễn Thị C đã có Đơn khiếu nại đến Chủ

tịch UBND tỉnh B yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của Chủ tịch UBND huyện H về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị C (Lần đầu). Đơn khiếu nại của bà C đã được thụ lý giải quyết theo Thông báo số 402/TB-UBND ngày 27/12/2014 của UBND tỉnh B về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần 2.

[1.2] Đến ngày 10/8/2021, do Chủ tịch UBND tỉnh B vẫn chưa ban hành

Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 nên bà Nguyễn Thị C làm đơn khởi kiện vụ án hành chính với các yêu cầu như trên.

[2] Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm nhận

thấy, theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Luật Khiếu nại thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai tối đa là 70 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết khiếu nại, nếu khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính và theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết khiếu nại và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại. Như vậy, tính từ ngày thụ lý giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Nguyễn Thị C là ngày 25/12/2014 đến ngày bà C nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính ngày 10/8/2021 là đã hết thời hiệu khởi kiện theo điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính. Bà Nguyễn Thị C không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho bà C không thực hiện được việc khởi kiện trong thời hạn luật định. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Đương sự kháng cáo bà Nguyễn Thị C và người đại diện theo ủy

quyền của bà C là ông Vũ Quốc V cùng có mặt tham gia phiên họp trình bày ý kiến về việc kháng cáo của bà C nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào mới.

Ngoài ra, Hồ sơ vụ án thể hiện, bà Nguyễn Thị C yêu cầu Chủ tịch

UBND tỉnh B thực hiện hành vi hành chính ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại, nhưng đối tượng bị khiếu nại là Quyết định giải quyết khiếu nại số 43/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của Chủ tịch UBND huyện H đã bị Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 17/QĐ- UBND ngày 29/02/2016 huỷ bỏ, tức đối tượng bị khiếu nại không còn.

[4] Với những nhận định và căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm

chấp nhận quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị C, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 50/2023/QĐST-HC ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[5] Về án phí hành chính phúc thẩm:

Miễn nộp tiền án phí hành chính phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị C, do bà

C là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH:

1- Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị C;

giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 50/2023/QĐST-HC ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

2- Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị C được miễn nộp án

phí hành chính phúc thẩm.

3- Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định là ngày

11 tháng 4 năm 2024./.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ