vanban.org

Quyết định 271/2023/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 25/04/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B (có ông Vũ Văn H là đại diện theo ủy quyền).

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 1789/2022/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. 2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn B kiện Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh"
  • Tòa quyết gì? 1/Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B (có ông Vũ Văn H là đại diện theo ủy quyền).
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 271/2023/QĐ-PTTP. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:

Bà Phạm Thị Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Hà Huy Cầu

Ông Mai Xuân Thành

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 1789/2022/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Khoản 5 Điều 38, Điểm h Khoản 1 Điều 143, Điều 144, Điều 204, Điều 206, Điều 211 và Điều 213 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện trong vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969

Địa chỉ: Số 32/22A đường số X10, khu dân cư H, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bị kiện: Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Số 63 L, phường B, Quận X1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 24/10/2022 người khởi kiện ông Nguyễn Văn B (có ông Vũ Văn H là đại diện theo ủy quyền) đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy Quyết định số 1789/2022/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp trình bày quan điểm giải quyết vụ việc: Yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.

XÉT THẤY:

Ngày 08/9/2020 ông Nguyễn Văn B có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ phần cập nhật quyền sử dụng đất của Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cho Doanh nghiệp tư nhân T do bà Võ Thị Quỳnh V làm chủ, đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 lô đất ký hiệu B16, đường số 15 và B17 đường số 10 thuộc dự án Khu dân cư B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu ông B xác định rõ yêu cầu khởi kiện cụ thể: Số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị đề nghị hủy, đã được cập nhật biến động vào ngày tháng năm nào, và quyền lợi ích hợp pháp ích hợp pháp của người khởi kiện đã bị xâm phạm. Tuy nhiên, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh các nội dung trên. Do vậy, căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính thì người khởi kiện chưa đủ điều kiện để khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm h Khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ.

Ông Nguyễn Văn B (có ông Vũ Văn H là đại diện theo ủy quyền) kháng cáo với các nội dung: Giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 lô đất ký hiệu B16, đường số 15 và B17 đường số 10 hiện nay Doanh nghiệp tư nhân T đang nắm giữ bản chính, Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh không cung cấp bản sao các giấy chứng nhận nên ông B không thể cung cấp được; Quá trình tố tụng ông B đã nộp bản đồ vị trí tỷ lệ 1/2000 để xác định vị trí và ranh lô đất ký hiệu B16 đường số 15 và B17 đường số 10 thuộc dự án 5,2ha khu dân cư B để làm căn cứ giải quyết vụ án; Ngoài ra, căn cứ Khoản 2 Điều 93 Luật tố tụng hành chính thì Tòa án phải tiến hành xác minh thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không cung cấp được.

Xét thấy, theo quy định của Luật tố tụng hành chính thì người khởi kiện phải nêu được nội dung quyết định hành chính bị kiện và xác định quyết định hành chính xâm phạm như thế nào đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Ông B không nêu được số Giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 lô đất và ngày tháng cập nhật biến động và không nêu chứng cứ chứng minh quyền lợi ích hợp pháp bị xâm hại từ quyết định hành chính bị kiện này. Bản đồ vị trí tỷ lệ 1/2000 là bản đồ thể hiện vị trí các lô đất của khu dân cư Bà Điểm 2 không có ý nghĩa chứng minh quyền lợi ích hợp pháp của ông B đang bị xâm phạm. Tại Khoản 2 Điều 93 Luật tố tụng hành chính quy định đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ trong trường hợp không thể tự mình thu thập, nhưng: “Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập”. Hơn nữa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã từng hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 631/2021/QĐST-HC ngày 05/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng quá trình giải quyết lại vụ án tại cấp sơ thẩm, ông B vẫn không cung cấp được thông tin cụ thể về quyết định hành chính bị kiện, nên yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận.

Mặt khác, thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính tính từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính bị kiện. Do vậy, khi ông B biết được quyết định hành chính bị kiện và xác định quyết định này ảnh hưởng như thế nào tới quyền lợi ích hợp pháp của mình thì thời hiệu khởi kiện sẽ được tính từ thời điểm đó. Do vậy, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 1789/2022/QĐST-HC ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông B.

Từ những nhận định trên, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp, bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 243 Luật Tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1/Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B (có ông Vũ Văn H là đại diện theo ủy quyền).

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 1789/2022/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003564 ngày 25/11/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định./.

Cỡ chữ