vanban.org

Quyết định 27 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị L

Chị Lương Thị L được ly hôn anh Phạm Đình D. 2- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là Phạm Khánh L sinh ngày 13/6/2005 và Phạm Bảo H sinh ngày 29/10/2007 cho chị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Phạm Đình D cho đến khi con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị L
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tßa ¸n nh©n d©n
QuËn Thanh xu©n
Thµnh phè Hµ Néi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 27/2019/HNGĐ- ST
Ngày: 19/7/2019
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi
con, chia tài sản khi ly hôn.
Nh©n danh
N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
Tßa ¸n Nh©n d©n QuËn Thanh Xu©n
Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị An
- Các Hội thẩm nH dân:
Thanh Xuân.
Đào Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2019/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 02
năm 2019 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, theo quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 152/2019/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2019
giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị L, sinh năm 1980. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm Đình D, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
Khương Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội .
Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nH dân quận Thanh Xuân, xét

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 18/9/2018 và các văn bản khai tại tòa nguyên đơn là chị Lương Thị L trình bày: Chị và anh Phạm Đình D kết hôn ngày 18/12/2003 tại UBND phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Cả hai đều kết hôn lần đầu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng có quan điểm sống không hòa hợp với nhau, thường xuyên xảy ra cãi nhau, thiếu sự chia sẻ, tôn trọng. Nguyên nH là do anh D nợ nần cờ bạc dẫn đến ảnh hưởng cuộc sống của gia đình. Vợ chồng anh chị đã ly tH nhưng cùng chung sống một nhà nhiều năm nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn mục đích hôn nH không đạt được nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn với anh D.

- Về con chung: Anh chị có 02 (hai) con chung là Phạm Khánh L sinh ngày 13/6/2005 và Phạm Bảo H sinh ngày 29/10/2007, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Thu nhập của chị hiện nay khoảng 8.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản và nhà đất chung: Anh chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phạm Đình D đã được Tòa án nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến nộp cho Tòa án về việc chị L xin ly hôn và cũng không đến Tòa để làm việc.

Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng, thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật và yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ nhưng anh D cố tình không đến Tòa án, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Chị L cũng có đơn đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai nhưng anh D vẫn vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản và nhà đất chung chị xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nH dân quận Thanh Xuân tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người nguyên đơn đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, cố tình vắng mặt không lý do làm cho vụ án bị kéo dài.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L. Chị Lương Thị L được ly hôn anh Phạm Đình D; Về con chung: Giao chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Khánh L sinh ngày 13/6/2005 và Phạm Bảo H sinh ngày 29/10/2007 và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh D cho đến khi có sự thay đổi khác; Về tài sản nhà đất chung: Chị L xác nhận không có, nên không xét;

Chị Lương Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Chị Lương Thị L và anh Phạm Đình D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/12/2003 tại UBND phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Đây là hôn nH hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị L và anh D đã ly tH nhiều năm nhưng vẫn chung sống cùng. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần cho anh D, anh D đã trực tiếp nhận nhưng cố tình không đến Tòa án, không có ý kiến về việc chị L xin ly hôn gửi Tòa án. Anh D đã tự khước từ quyền lợi của mình, cố tình gây cản trở trong việc xin ly hôn của chị L.

Tòa án đã tiến hành trao đổi với Tổ trưởng tổ dân phố 13A, phường Khương Trung và Chi Hội phụ nữ khu dân cư 13, phường Khương Trung quận Thanh Xuân nơi chị L và anh D cư trú: về mâu thuẫn vợ chồng của chị L và anh D, Chi Hội phụ nữ cũng như Tổ trưởng tổ dân phố không nắm rõ, về phần con chung cũng đề nghị Tòa xem xét giao con chung cho bên nào có điều kiện chăm sóc nuôi dạy các con tốt hơn, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em cũng như phù hợp với nguyện vọng của các con.

Xét thấy: Nay hôn nH của chị L và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L. Chị Lương Thị L được ly hôn anh Phạm Đình D theo quy định pháp luật tại khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị L và anh D 02 (hai) con chung là Phạm Khánh L sinh ngày 13/6/2005 và Phạm Bảo H sinh ngày 29/10/2007, sau khi ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy chị L có công ăn việc làm và cư trú ổn định. Vì vậy, căn cứ điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Giao chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi dưỡng 02 con chung đối với anh Phạm Đình D cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.

- Về tài sản và nhà đất chung: Chị L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xét.

- Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 – Luật Hôn nH gia đình; Khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273, Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm b, tiết 1.1 khoản II mục A- Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị L

Chị Lương Thị L được ly hôn anh Phạm Đình D.

2- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là Phạm Khánh L sinh ngày 13/6/2005 và Phạm Bảo H sinh ngày 29/10/2007 cho chị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Phạm Đình D cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác

Anh D được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

3- Về tài sản, nhà đất chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4- Về án phí: Chị Lương Thị L phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chị đã nộp đủ theo biên lai số 0005742 ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. N¬i nhËn:

Cỡ chữ