- Tranh chấp gì? "Nguyễn Ngọc G"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc G, sinh ngày: 23/10/1988; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ F, khu phố B, P. H, TP .Q, tỉnh Bình Định.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 27/QĐ-TA | Quy Nhơn, ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN – TỈNH BÌNH ĐỊNH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Diễm
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Hương Giang
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 27/QĐ-TA ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc G, sinh ngày: 23/10/1988; Giới tính: Nam; CCCD số: 052088008843; Ngày cấp: .../..../...; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Phụ quán cơm; Nơi cư trú: Tổ F, khu phố B, P. H, TP .Q, tỉnh Bình Định; con ông: Nguyễn M (chết) và bà Phan Thị T. Nguyễn Ngọc G vắng mặt tại phiên họp, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hoàng Th - Phó Trưởng phòng L, tỉnh Bình Định.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn: Bà Trần Thanh Trang
- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Ngọc G là người nghiện ma túy đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật – Sở Y; vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 12/01/2025, Cơ quan Công an tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Nguyễn Ngọc G, có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy Methamphetamine (ma túy đá) và M1. Ngày 16/01/2025, Trung tâm kiểm soát bệnh tật - Sở y tế tỉnh Y ban hành Thông báo số 05/TB-TTKSBT ngày 16/01/2025 về việc chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nguyễn Ngọc G. Hành vi của G đã vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Điểm c khoản 2 Điều 36 của Nghị định số 141/2024/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS). Do đó ngày 11/02/2025 Ủy ban nhân dân phường H, TP . ban hành văn bản số 01/ĐN-CNBB đề nghị Phòng L chuyển hồ sơ đề nghị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc G.
Ý kiến của Cơ quan đề nghị: Nguyễn Ngọc G là người đang điều trị cai nghiện và đang tham gia điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật – Sở Y. Ngày 12/01/2025, Cơ quan Công an tiến hành test người nghiện đang điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật – Sở Y thì phát hiện Nguyễn Ngọc G dương tính với chất ma túy Methamphetamin, M1 nên ngày 16/01/2025, Trung tâm kiểm soát bệnh tật - Sở y tế tỉnh Y ban hành Thông báo số 05/TB-TTKSBT về việc chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nguyễn Ngọc G. Hành vi của Nguyễn Ngọc G đã vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Điểm c khoản 2 Điều 36 của Nghị định số 141/2024/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đưa Nguyễn Ngọc G vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Việc lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Ngọc G vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ thủ tục lập hồ sơ đề nghị đến khi Tòa án thụ lý và ra Quyết định mở phiên họp đúng theo trình tự thủ tục luật định. Đề nghị đưa Nguyễn Ngọc G vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Nguyễn Ngọc G là người nghiện ma túy đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật – Sở Y. Tuy nhiên, trong thời gian đang điều trị nghiện, qua kiểm tra phát hiện Nguyễn Ngọc G dương tính với các chất ma túy Methamphetamine và M1. Hành vi của G đã vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Điểm c khoản 2 Điều 36 của Nghị định số 141/2024/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) nên Phòng L, tỉnh Bình Định có văn bản số: 70/ĐN-CNBB ngày 12 tháng 02 năm 2025 đề nghị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Ngọc G vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.
Nguyễn Ngọc G là người nghiện đang điều trị nghiện tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật – Sở Y, lẽ ra phải thực hiện nghiêm các biện pháp cai nghiện theo quy định của Trung tâm nhưng trong thời gian điều trị nghiện G đã sử dụng ma túy Methamphetamin. Do đó áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Ngọc G vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.
Xét về nhân thân của người bị đề nghị thì Nguyễn Ngọc G không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình làm việc, Nguyễn Ngọc G đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc G, sinh ngày: 23/10/1988; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ F, khu phố B, P. H, TP .Q, tỉnh Bình Định.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Toà án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng L phối hợp với Công an thành phố Q, tỉnh Bình Định có trách nhiệm tổ chức thi hành. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- TAND tỉnh Bình Định;
- VKSND TP. Quy Nhơn;
- Công an TP. Quy Nhơn;
- Cơ sở cai nghiện ma túy);
- Phòng LĐ-TB và XH TP. Quy Nhơn;
- UBND P. Hải Cảng , TP. Quy Nhơn;
Phạm Thị Hồng Diễm
- Người bị áp dụng;
- Lưu hồ sơ. 3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.(8) 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: ………………………………………………………….. (9)
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Ghi theo khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh; - Lưu hồ sơ. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 09: (1) và (3) Ghi tên Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; cần ghi rõ Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H). (2) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bỏ cụm từ “(không áp dụng)”. (4) Ghi địa điểm Tòa án tiến hành mở phiên họp (ví dụ: tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H). (5) Ghi tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát, người bị đề nghị tại phiên họp. (6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. (7) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì có điểm 2 và điểm 5 phần quyết định; trường hợp Tòa án quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bỏ điểm 2 và điểm 5 phần quyết định. (8) Ghi quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. (9) Ghi tên cơ quan có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. |