vanban.org

Quyết định 27/2024/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Cúc"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2024/QĐST-HNGĐTân Uyên, ngày 12 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Tổ dân phố 17, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Bị đơn: Anh Hồ Hữu T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ dân phố 17, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Căn cứ vào Điều 147, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 54, 55, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 04 tháng 6 năm 2024.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04 tháng 6 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau.

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T có 02 con chung là cháu Hồ Hữu Phong, sinh ngày: 28/9/2012 và cháu Hồ Hữu An Bình, sinh ngày: 07/01/2018. Chị C và anh T thỏa thuận, thống nhất sau khi ly hôn:

Chị Nguyễn Thị C là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung là cháu Hồ Hữu Phong, sinh ngày: 28/9/2012 và cháu Hồ Hữu An Bình, sinh ngày: 07/01/2018 cho đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Hồ Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Khoản 2 Điều 83 - Luật hôn nhân gia đình quy định:

“Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được

cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

2.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.4. Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.5. Về án phí dân sự sơ thẩm là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Nguyên đơn chị Nguyễn Thị C và anh Hồ Hữu T mỗi người phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị C tự nguyện nộp toàn bộ án phí của vụ án bao gồm cả phần án phí mà anh Hồ Hữu T phải chịu. Tổng cộng chị Nguyễn Thị C phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Xác nhận chị Nguyễn Thị C đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số: 0000899 ngày 21/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Nay trả lại cho chị Nguyễn Thị C 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ