vanban.org

Quyết định 27/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm V, cho chị Võ Thị Cẩm V được ly hôn với anh Lý Và K.

Về con chung: Giao cháu Lý Thiên B, sinh ngày 11/3/2015 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu. Anh K được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Võ Thị Cẩm V yêu cầu ly hôn với anh Lý Và K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm V, cho chị Võ Thị Cẩm V được ly hôn với anh Lý Và K.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2024;
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA- TÆNH ÑOÀNG NAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2820/2023/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Cẩm V, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Tổ 11, khu phố L, phường T, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Lý Và K, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Tổ 11, khu phố L, phường T, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

(Chị V có mặt; Anh K có đơn xin vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Và K tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, anh K thường xuyên nhậu nhẹt. Chị và anh K đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Và K.

- Về con chung: Chị V xác định có 01 con chung cháu Lý Thiên B, sinh ngày 11/3/2015. Ly hôn chị xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bảo. Tạm thời chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị không yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác.

*Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Lý Và K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Võ Thị Cẩm V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống hạnh phúc từ đó đến nay không xảy ra mâu thuẫn gì. Từ tháng 5/2023 anh và chị V sống ly thân với nhau không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị V xin ly hôn thì anh không đồng ý.

- Về con chung: Anh K xác định có 01 con chung cháu Lý Thiên B, sinh ngày 11/3/2015. Ly hôn, anh xin nuôi cháu B và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh không có ý kiến gì và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.

+ Về việc giải quyết tranh chấp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm V, cho chị Võ Thị Cẩm V được ly hôn với anh Lý Và K; Về con chung: Giao cháu Lý Thiên B, sinh ngày 11/3/2015 cho chị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí: Chị Võ Thị Cẩm V phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ pháp luật: Chị Võ Thị Cẩm V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Và K. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị Võ Thị Cẩm V là nguyên đơn, anh Lý Và K là bị đơn.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lý Và K có hộ khẩu thường trú tại thành phố Biên Hoà và hiện nay đang cư trú tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị Cẩm V có mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Lý Và K có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án tiến hành xét xử theo quy định.

Về yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm V, HĐXX xét thấy: Chị Võ Thị Cẩm V và anh Lý Và K tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp giấy kết hôn số 117/2014, quyển 01/2013 + 14, ngày 27/02/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, anh K thường xuyên nhậu nhẹt. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện nay chị và anh K đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay không quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K. Anh K cho rằng vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì nhưng hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 5/2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xét yêu cầu ly hôn của chị V là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng theo lời khai của chị V, anh K thì hiện nay cả hai đã sống ly thân không còn tình cảm, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Khi mâu thuẫn xảy ra và quá trình sống ly thân chị V và anh K không có biện pháp gì để hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, thể hiện việc mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa chị V, anh K là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải và tại phiên tòa chị V vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với anh K nữa. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị Võ Thị Cẩm V được ly hôn với anh Lý Và K.

- Về con chung: Chị V, anh K xác định có 01 con chung cháu Lý Thiên B, sinh ngày 11/3/2015. Ly hôn chị V, anh K đều xin được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét về điều kiện nuôi con: Căn cứ vào lời khai thì chị V và anh K hiện nay đều làm việc tại thành phố Biên Hoà có công việc và mức lương ổn định, chị V làm công việc tự do còn công việc của anh K thì thường xuyên tăng ca (làm từ 07 giờ sáng đến 19 giờ tối). Như vậy, xét về điều kiện kinh tế thì chị V và anh K tương đồng nhau nhưng xét về thời gian chăm sóc và đưa đón con thì chị V chủ động hơn. Mặt khác cháu B đang ở với chị V và cháu có nguyện vọng ở với chị V. Để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý, việc ăn ở, học hành của cháu B nên giao cháu B cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị V giao cháu Lý Thiên B, sinh ngày 11/3/2015 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu.

Anh K được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Võ Thị Cẩm V phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Lý Và K không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Áp dụng Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm V, cho chị Võ Thị Cẩm V được ly hôn với anh Lý Và K.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Thiên B, sinh ngày 11/3/2015 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu.

Anh K được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Án phí HNGĐ-ST: Chị Võ Thị Cẩm V phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị V đã nộp tại biên lai số 0009818 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Chị Võ Thị Cẩm V đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Lý Và K không phải nộp án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị Cẩm V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lý Và K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh;

- VKSND TP. Biên Hòa;

- THA dân sự;

- UBND nơi ĐKKH;

- Đương sự;

- Lưu.

Nguyễn Thị Quỳnh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh

NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN NAM ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thìn

Huỳnh Thị Kim Kiên

Nguyễn Thị Quỳnh

TM.NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ