vanban.org

Quyết định 27/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 105/2020/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2020;

Về việc: Xin ly hôn, giữa; Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1982; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Bùi Thị L xin ly hôn anh Phan Thành T"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 105/2020/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2020;
  • Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN BỐ TRẠCH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 27 /2020/QĐST-HNGĐ

Bố Trạch, ngày 03 tháng 9 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Căn cứ vào khoản 5 Điều 48; điểm g khoản 1 Điều 217(thuộc trường hợp đoạn 2 điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự); khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 218; khoản 1 Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao về Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm;

Xét thấy: Tòa án Nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã ra Thông báo yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn số 105/2020/TB-TA, ngày 06/7/2020, trong đó có nêu rõ nội dung nếu nguyên đơn chị L không cung cấp được địa chỉ cư trú hiện nay của anh T thì Tòa án sẽ đình chỉ vụ án, ngày 06/7/2020Tòa án đã giải thích và giao trực tiếp Thông báo nêu trên cho nguyên đơn chị Bùi Thị L yêu cầu cung cấp địa chỉ nơi cư trú hiện nay của bị đơn anh Phan Thành T; ngày 27/8/2020 chị L làm đơn trình bày: Nay chị L không biết địa chỉ nơi cư trú hiện nay của anh T ở đâu để cung cấp cho Tòa án theo yêu cầu, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; nay đã hết thời hạn nhưng chị L vẫn không cung cấp được. Kết quả xác minh tại gia đình anh T ngày 27/8/2020(có xác nhận của chính quyền địa phương): Mẹ anh T là bà Nguyễn Thị T và vợ anh T là chị Bùi Thị L cho biết: Tháng 01/2014 anh T đi làm ăn ở Miền Nam đến nay. Gia đình đã nhận được các giấy tờ Tòa án gữi cho anh T như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo họp giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 và lần 2; các giấy triệu tập phiên họp và hòa giải lần 1 và lần 2. Gia đình không biết địa chỉ nơi cư trú hiện nay của anh T ở đâu để giao lại cho anh T và cung cấp cho Tòa án địa chỉ nơi cư trú hiện nay của anh T theo yêu cầu. Hiện nay hộ khẩu anh Tvẫn đang ở thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Q. Gia đình đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Như vậy, nguyên đơn chị Bùi Thị L và gia đình anh T không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú hiện nay của anh T ở đâu, anh T đi làm ăn ở Miền Nam từ tháng 01/2014 cho đến nay(trước thời điểm nguyên đơn chị L làm đơn khởi kiện: Ngày 18/5/2020). Do vậy, việc đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

1.Đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 105/2020/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2020;

Về việc: Xin ly hôn, giữa;

-Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn 2 B, xã H, huyện B, tỉnh Q;

-Bị đơn: Anh Phan Thành T, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Q;

2.Hậu quả của việc đình chỉ vụ án: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án. Nguyên đơn chị Bùi Thị L được nhận lại số tiền 300.000đ(ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Biên lai số 0003485 ngày 01/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

3.Đương sự: Nguyên đơn chị Bùi Thị L và bị đơn anh Phan Thành T có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ