vanban.org

Quyết định 27/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V:

Tuyên bố anh Nguyễn Văn H1 mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V được miễn nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "TUYÊN BỐ MẤT NĂNG LỰC HVDS"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V:
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2020/QĐST-DSXuân Lộc, ngày 22 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hồ Thị Sương.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Dương - Thư ký tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 12 năm 2020 , tại trụ sở Tòa án huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 200/2020/TLST- DS ngày 26 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 210/2020/QĐST- VDS ngày 15 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1930.

2. Bà Lê Thị V, sinh năm 1935.

Cùng cư trú tại: ấp T, xã XH, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Ông H, bà V có đơn xin vắng mặt tại phiên họp)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và quá trình làm việc, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V thống nhất trình bày: ông bà là cha, mẹ của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1979. Từ lúc sinh ra tinh thần anh H1 đã không được minh mẫn, không nhận thức và điều khiển hành vi của mình được, mọi sinh hoạt trong cuộc sống gặp nhiều khó khăn, hạn chế nên vợ chồng ông bà luôn là người lo liệu chăm sóc cho anh H1. Theo kết luận giám định pháp y tâm thần của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa - Bộ Y tế kết luận anh H1 bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Nên ông H, bà V yêu cầu Tòa án tuyên bố anh H1 mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp có ý kiến như sau: Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V, tuyên bố anh Nguyễn Văn H1 mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc nhận định:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết việc dân sự, sự vắng mặt của đương sự tại phiên họp: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn H1, cư trú tại ấp T, xã XH, huyện X mất năng lực hành vi dân sự, nên quan hệ pháp luật là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị V có đơn xin vắng mặt, do đó, vẫn tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của người yêu cầu: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn H1 mất năng lực hành vi dân sự do anh H1 từ lúc sinh ra đến nay không được minh mẫn, không nhận thức và điều khiển hành vi của mình được, mọi sinh hoạt trong cuộc sống gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 690/KL-VPYTW ngày 03/12/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa - Bộ Y tế kết luận: Về Y học: Anh H1 bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72-ICD.10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V về việc tuyên bố anh Nguyễn Văn H1 mất năng lực hành vi dân sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự nên được miễn nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 144; khoản 1 Điều 149 , Điều 372 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V:

Tuyên bố anh Nguyễn Văn H1 mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị V được miễn nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ