- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 17/QĐ-VKS-HS ngày 20/5/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2016/HSST ngày 22/3/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
- Căn cứ chính? Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––––––––– Quyết định số: 27/2019/HS-GĐT Ngày 15 tháng 10 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: - Ông Ngô Hồng Phúc
- Ông Trần Văn Tuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Quỳnh Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trung Quy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Nguyễn Văn L sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp Đ, xã V, huyện H, tỉnh B; trình độ văn hóa: 2/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Ng và bà Nguyễn Thị M; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
* Người bị hại: Chị Đào Thị Thanh T sinh năm 1970; trú tại: số 344 Lê Thanh Ng, phường Lê Thanh Ng, thành phố H, tỉnh H.
* Người có quyền lợi liên quan: Chị Đặng Thị Mỹ L sinh năm 1989; trú tại: Ấp Đ, xã V, huyện H, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Cuối tháng 4/2015, Nguyễn Văn L ở ấp Đ, xã V, huyện H, tỉnh B đến thuê và tạm trú tại số nhà D4/25F ấp 4, xã V, huyện B, thành phố H, cùng với một số người khác. Trong thời gian này, L được Đặng Văn E (bố vợ của L) bàn bạc cùng nhau lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng cách gọi điện thoại vào số máy bàn của những người ở các tỉnh phía Bắc nhận là người quen và giới thiệu làm ở Công ty xổ số kiến thiết Miền Bắc nên biết trước kết quả xổ số. Nếu những người này muốn đánh số lô, số đề thì sẽ nhận được các con số bất kỳ để theo dõi kết quả và khi kết quả trùng với số đã cho sẽ làm những người này tin tưởng là biết trước được kết quả. Sau đó, L cùng các đối tượng tiếp tục rủ rê, lôi kéo những người bị hại này góp vốn vào công ty để hưởng lợi nhuận bằng hình thức chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng. Bằng thủ đoạn này, các đối tượng đã gọi vào số điện thoại di động 0904690366 của chị Đào Thị Thanh T và lừa chị T chuyển tổng số tiền 2.050.000.000 đồng rồi chiếm đoạt.
Quá trình điều tra, gia đình Nguyễn Văn L đã bồi thường 2.050.000.000 đồng cho chị T. Nguyễn Văn L khai Đặng Văn E là người khởi xướng chủ mưu chiếm đoạt 2.050.000.000 đồng của chị T. Các đối tượng Nguyễn Văn H (tức Hon), Trần Quốc Th, Trần Kim Th đều không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tách để tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2016/HSST ngày 22/3/2016, Tòa án nhân dân tỉnh H áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; các điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Sau khi xét xử, do không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên Bản án nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.
Tại Quyết định kháng nghị số 17/QĐ-VKS-HS ngày 20/5/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2016/HSST ngày 22/3/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh H; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án nêu trên để điều tra lại, với lý do:
“Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Nguyễn Văn L khai cùng thực hiện việc chiếm đoạt tiền của chị T chủ mưu là Đặng Văn E (bố vợ L) và Nguyễn Văn H nhưng Cơ quan điều tra đã không áp dụng các biện pháp điều tra để khởi tố bị can, truy nã các đối tượng bỏ trốn dẫn đến bỏ lọt người phạm tội. Hiện nay, Đặng Văn E bị Công an tỉnh B bắt và khai nhận đã cùng Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn H (tên gọi khác H) cùng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 2.050.000.000 đồng của chị Đào Thị Thanh T. Đặng Văn E là người chủ mưu được hưởng số tiền chiếm đoạt 1.230.000.000 đồng, Nguyễn Văn Lấy và Nguyễn Văn H là người giúp sức theo sự phân công của Đặng Văn E và được E chia cho H và L mỗi người 410.000.000 đồng. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển tài liệu đến Cơ quan Điều tra tỉnh H để giải quyết.
Như vậy, vị trí, vai trò của Nguyễn Văn L chỉ là đồng phạm, giúp sức cho Đặng Văn E, quá trình khai báo thành khẩn, đã khắc phục toàn bộ hậu quả nên mức án 12 năm tù là nặng. Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn L chỉ được chia 410.000.000 đồng, nhưng trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã trả toàn bộ cho bị hại 2.050.000.000 đồng. Cho nên cần thiết phải xem xét quyết định lại phần bồi thường dân sự đảm bảo quyền lợi cho Nguyễn Văn L”.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tội danh: Nguyễn Văn L cùng một số đối tượng dùng thủ đoạn gọi điện thoại cho chị Đào Thị Thanh T, giới thiệu làm ở Công ty xổ số kiến thiết Miền Bắc và cho số lô, số đề trong ba ngày liên tiếp đều trúng thưởng. Sau đó, các đối tượng lôi kéo chị T góp vốn để hưởng lợi nhuận bằng cách chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng. Do chị T tin tưởng là có thể biết trước kết quả xổ số nên đã chuyển cho các đối tượng tổng số tiền là 2.050.000.000 đồng và bị L cùng các đối tượng này chiếm đoạt. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của Nguyễn Văn L để xác định bị cáo có vai trò đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội theo sự hướng dẫn của đối tượng Đặng Văn E, từ đó áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L 12 năm tù (mức khởi điểm của khung hình phạt) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật và đã xem xét toàn diện nội dung vụ án, tính chất của hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo L.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn L đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt là 2.050.000.000 đồng và người bị hại không có yêu cầu nào khác nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét về bồi thường dân sự. Do đó, kháng nghị giám đốc thẩm cho rằng cần thiết phải xem xét quyết định lại phần bồi thường dân sự đảm bảo quyền lợi cho Nguyễn Văn L là không phù hợp với nội dung quyết định tại Bản án sơ thẩm. Mặt khác, Nguyễn Văn L vẫn có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Đặng Văn E có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 2.050.000.000 đồng đã chiếm đoạt của người bị hại.
[4] Về vấn đề bỏ lọt tội phạm đối với Đặng Văn E và một số đối tượng khác: Tại thời điểm điều tra, truy tố, xét xử vụ án Nguyễn Văn L “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì Đặng Văn E và một số đối tượng khác đều không có mặt tại địa phương nên chưa đủ căn cứ làm rõ hành vi phạm tội của các đối tượng này. Cơ quan điều tra đã tách để tiếp tục làm rõ, xử lý sau; không phải là bỏ lọt tội phạm. Hiện nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã bắt giữ được Đặng Văn E và E đã khai nhận về hành vi lừa đảo chiếm đoạt 2.050.000.000 đồng của chị T. Công an tỉnh B đã chuyển thông tin tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H để tiếp tục giải quyết theo quy định. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 17/QĐ-VKS-HS ngày 20/5/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 382; khoản 1 Điều 388; Điều 389 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Không chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 17/QĐ-VKS-HS ngày 20/5/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2016/HSST ngày 22/3/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
CÁC THẨM PHÁN
| Trần Văn Tuân Ngô Hồng Phúc | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Minh |