- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn anh C"
- Tòa quyết gì? Xử: Cho chị Đỗ Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HNGĐ- ST Ngày: 22-7-2019 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình ơ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Tranh
2. Bà Lưu Thị Kim Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Khánh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 416/2019/QĐXX-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 465/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05/7/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim T - Sinh năm 1985
Địa chỉ: Khu 14, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(có mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân C - Sinh năm 1985
Địa chỉ: Khu 14, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 5 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Kim T và anh Nguyễn Xuân C đăng ký kết hôn ngày 20/3/2017 tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình anh C tại khu 14, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C không có trách nhiệm và không quan tâm đến vợ con. Chị T và 02 con chung đã chuyển ra khỏi nhà anh C và từ đó cho đến nay giữa chị T và anh C không còn quan tâm gì với nhau nữa. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 02 con chung:
- Cháu Nguyễn Quảng B – Sinh ngày 02/11/2007
- Cháu Nguyễn Thị Phương L – Sinh ngày 17/9/2010.
Hai cháu hiện đều ở cùng chị T. Nay ly hôn, chị T xin được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Phía bị đơn là anh Nguyễn Xuân C vắng mặt: Trong quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Ngày 21/5/2019, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân N là bố đẻ anh C và ông N cho biết: chị T và anh C kết hôn ngày 20/3/2017 tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn chị T và anh C sống cùng cùng với gia đình ông tại khu 14, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T và anh C có mâu thuẫn, gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng tình trạng vẫn không thay đổi được. Anh C đi làm ăn xa nhà, thỉnh thoảng anh C có liên lạc về nhà. Chị T và 02 con chung đã chuyển ra khỏi nhà ông bà từ lâu. Giữa chị T và anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Quảng B – Sinh ngày 02/11/2007 và cháu Nguyễn Thị Phương L – Sinh ngày 17/9/2010, hiện nay cả hai cháu đều đang ở cùng chị T. Hiện nay, cụ thể anh C đang ở đâu thì ông N không biết rõ, các giấy tờ Tòa án giao, ông N đều thông báo lại cho anh C khi anh C liên lạc về với gia đình nhưng anh C không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi không nhận các thông báo cũng như các quyết định của Tòa án, không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
Về nội dung vụ án:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Kim T là xử cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
- Về con chung: Giao cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Quảng B – Sinh ngày 02/11/2007 và cháu Nguyễn Thị Phương L – Sinh ngày 17/9/2010 và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T không yêu cầu
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn vắng mặt . Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có nơi cư trú tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về việc vắng mặt của anh Nguyễn Xuân C, thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 21/6/2019 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho gia đình anh C và niêm yết tại nơi cư trú của anh C nhưng anh C vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho gia đình anh C và niêm yết tại nơi cư trú của anh C. Tại phiên Tòa hôm nay anh C vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Xuân C là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
.Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Kim T và anh Nguyễn Xuân C đăng ký kết hôn ngày 20/3/2017 tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, trước khi kết hôn được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị T và anh C sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhận là do không hợp nhau. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết tại Tòa án chị T cương quyết xin ly hôn còn anh C vắng mặt không có lý do nên không có quan điểm.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Kim T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị T và anh C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh C không quan tâm đến vợ con. Tại biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Xuân N là bố đẻ anh C và Biên bản xác minh ngày 21/5/2019 tại khu dân cư cũng thể hiện giữa chị T và anh C có mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, anh chị đã sống ly thân từ lâu, hiện nay anh C đi làm ăn xa nhà và vẫn liên lạc với gia đình. Chị T và 02 con chung đã về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị T. Như vậy xét yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ vì cuộc sống chung giữa chị T và anh C không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại vì chị T và anh C đã sống ly thân, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
-Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Quảng B – Sinh ngày 02/11/2007 và cháu Nguyễn Thị Phương L – Sinh ngày 17/9/2010. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị T xin được nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị T là chính đáng, vì trong nhiều năm qua chị T luôn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, mặt khác anh C đi làm ăn xa nhà đã lâu không về thăm và có trách nhiệm với 02 con chung, mặt khác 02 cháu cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Vì vậy cần giao cháu Nguyễn Quảng B – Sinh ngày 02/11/2007 và cháu Nguyễn Thị Phương L – Sinh ngày 17/9/2010 cho chị T trược tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T không yêu cầu.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Vì anh C vắng mặt không có quan điểm và chị T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các điều 51, 56, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Cho chị Đỗ Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.
Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Kim T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Nguyễn Quảng B – Sinh ngày 02/11/2007 và cháu Nguyễn Thị Phương L – Sinh ngày 17/9/2010. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị T không yêu cầu.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối con chung, không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thị Kim T phải chịu 300.000đ(B trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đ (B trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0000078 ngày 09/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tp V; - Chi cục THA thành phố V; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Thanh Huyền |