- Tranh chấp gì? "Ông Mai Anh T kiện Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Mai Anh T; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 1432/2020/QĐST-HC ngày 08 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giải quyết vụ án.
- Căn cứ chính? Điều 118 Luật tố tụng hành chính; Điều 122 Luật tố tụng hành chính; Điều 123 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 264/2021/QĐ-PT | TP. Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Minh Thịnh
Ông Trần Xuân Minh
- Thư ký phiên họp: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 1432/2020/QĐST-HC ngày 08 tháng 9 năm 2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, các Điều 118, 122, 123, 143, 144 của Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 85/2019/HC-ST ngày 26/4/2019 về “Khiếu kiện quyết định hành chính”, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Mai Anh T; Địa chỉ: Số T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Đường A, ấp Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Số 12 Phan Đăng Lưu, Phường 14, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Tại đơn kháng cáo của ông Mai Anh T đề ngày 06/10/2020, ông T không đồng ý với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 1432/2020/QĐST-HC với lý do: Ông không cung cấp được địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo yêu cầu của Tòa án là bà Mai Lệ H (là con gái ông) đang ở Hoa Kỳ là do dịch covid, con gái ông đã chuyển chỗ ở.
Tại phiên họp hôm nay ông T trình bày: Ông đại diện cho các thừa kế đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ. Khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì ông được thông báo phải nộp tiền sử dụng đất là 356.950.000đ, sau này ông đã dùng tiền cá nhân của ông nộp tiền sử dụng đất, nhận về giấy chứng nhận QSDĐ. Đất này ông đã tặng cho bà Mai Lệ H và ông Mai Anh N là con ông, đã sang tên cho bà H, ông N, tiền sử dụng đất là của cá nhân ông. Ông T khởi kiện yêu cầu hủy văn bản số 160/CNTB ngày 30/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Bình Tân về việc giải quyết đơn của ông T và phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 8349-2017/PCTTĐC. Ông T cho rằng việc áp dụng khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/NĐ-CP để buộc ông nộp tiền sử dụng đất như văn bản số 160/CNTB ngày 30/01/2018 là không đúng.
XÉT THẤY:
- Ông Mai Anh T là người đại diện cho các thừa kế đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu nhà số seri CI 711270 cấp ngày 10/8/2017. Ông T nộp tiền sử dụng đất theo Thông báo nộp tiền sử dụng đất số U1743/TB-CCT-TBA ngày 25/8/2017 của Chi cục thuế Tân Bình. Tiền sử dụng đất là của cá nhân ông T, việc nộp tiền sử dụng đất vào ngày 08/10/2018 và đã được ghi tại trang 4 giấy chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu nhà.
- Sau khi nộp tiền sử dụng đất, ông T đã tặng cho toàn bộ thửa đất cho bà Mai Lệ H và Mai Anh N và đã sang tên chủ quyền nhà đất cho bà H, ông N ngày 16/11/2018 được ghi nhận tại trang 4 chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu nhà.
Như vậy, khoản tiền ông T nộp tiền sử dụng đất và các điều khoản của pháp luật mà cơ quan nhà nước áp dụng khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu nhà đứng tên ông Mai Anh T không liên quan gì đến bà H.
Nay ông T không đồng ý văn bản số 160/CNTB ngày 30/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai và phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 8349-2017/PCTTĐC, ông khởi kiện yêu cầu hủy các văn bản này. Xét thấy, việc khởi kiện của ông T không liên quan và không ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Mai Lệ H. Cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do ông T không cung cấp được địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Mai Lệ H là không đúng bản chất vụ án.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông T, hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.
Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của ông T; hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.
Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 243 của Luật tố tụng hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của ông Mai Anh T; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 1432/2020/QĐST-HC ngày 08 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giải quyết vụ án.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - NKK; - NBK; - Lưu: VT, HS, 13bTNB. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Hùng |