vanban.org

Quyết định 261/2018/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 25/07/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Võ Phương H

Giữ y quyết định của cấp sơ thẩm xử. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 66/2017/TLST-HC ngày 08/12/2017 v/v khiếu kiện quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, giải quyết khiếu nại về đất đai và cưỡng chế thu hồi đất giữa: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bà Nguyễn Võ Phương H kiện Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Ninh Thuận, Ủy ban nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Chủ tịch Ủy ban nhân…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Võ Phương H
  • Căn cứ chính? Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 261/2018/QĐ-PTNinh Thuận, ngày 25 tháng 7 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Tô Chánh Trung

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hoàng Tấn

Ông Đặng Văn Ý

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết – Kiểm sát viên cao cấp.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 02/2018/QĐST-HC ngày 06 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xác định như sau:

Theo đơn khởi kiện thì bà Nguyễn Võ Phương H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử hủy các công văn và các quyết định như: Công văn số 345/TTPTQĐ ngày 25/11/2013 của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố P; Quyết định số 3032/QĐ-UBND ngày 17/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố P v/v thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Võ Phương H; Quyết định số 3065/QĐ-UBND ngày 17/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố P v/v bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông bà Nguyễn Võ Phương H khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu vực xung quanh nhà bảo tàng Ninh Thuận; Quyết định số 731/QĐ-UBND ngày 31/3/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố P v/v giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Võ Phương H; quyết định số 2483/QĐ-UBND ngày 26/8/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P v/v cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ bà Nguyễn Võ Phương H; Quyết định số 3368/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P v/v giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Võ Phương H; Quyết định số 261/QĐ-UBND ngày 30/01/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận v/v giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Võ Phương H; Công văn số 4535/UBND-TCD ngày 07/11/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận v/v xử lý kiến nghị của bà Nguyễn Võ Phương H do bà Võ Huỳnh Phương T đại diện; Công văn số 2589/UBND-TCD ngày 30/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P v/v trả lời đơn của bà Võ Huỳnh Phương T đại diện cho bà H khiếu nại.

Bà Nguyễn Võ Phương H cho rằng dự án xây dựng hạ tầng cơ sở khu vực xung quanh nhà bảo tàng tỉnh Ninh Thuận không thuộc các trường hợp nhà nước thu hồi đất, yêu cầu chủ đầu tư dự án thỏa thuận với chủ sử dụng đất theo các hình thức chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn... để giải phóng mặt bằng, thực hiện dự án...

Ở cấp sơ thẩm cũng như tại phiên họp ngày 25/7/2018, bà Võ Huỳnh Phương T xác định các văn bản và quyết định như trên bà Nguyễn Võ Phương H có nhận như sau:

1. Công văn số 345/TTPTQĐ ngày 25/11/2013 của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố P, bà H nhận vào đầu tháng 12 năm 2013.

2. Quyết định số 3032/QĐ-UBND ngày 17/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp, bà H nhận vào ngày 28/12/2013.

3. Quyết định số 3065/QĐ-UBND ngày 17/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố P bà H nhận vào ngày 28/12/2013.

4. Quyết định số 731/QĐ-UBND ngày 31/3/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố P bà H nhận vào ngày 15/4/2014.

5. Quyết định số 2483/QĐ-UBND ngày 26/8/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P bà H nhận vào ngày 06/9/2014.

6. Quyết định số 3368/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P bà H nhận vào ngày 15/11/2014.

7. Quyết định số 261/QĐ-UBND ngày 30/01/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận v/v giải quyết khiếu nại của bà H, bà H nhận vào tháng 02 năm 2015.

Các công văn và quyết định nêu trên, bà H đã nhận vào năm 2014, tháng 02 năm 2015 đến ngày 15/9/2017 bà Nguyễn Võ Phương H mới nộp đơn khởi kiện tại Tòa án. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện các công văn hoặc các quyết định trên đã hết để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng.

Đối với Công văn số 4535/UBND-TCD ngày 07/11/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận v/v xử lý kiến nghị của bà Nguyễn Võ Phương H (do bà Võ Huỳnh Phương T đại diện) chuyển cho Ủy ban nhân dân thành phố P giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là công văn nội bộ, không phải đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là đúng (vì công văn này đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố P giải quyết theo quy định của pháp luật chứ không phải chỉ đạo giải quyết lại vụ việc). Đối với Công văn số 2589/UBND-TCD ngày 30/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P v/v trả lời đơn của bà Võ Huỳnh Phương T đại diện cho bà H khiếu nại, cũng như theo giải thích của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P cho rằng vụ việc của bà H trước đây giải quyết đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét giải quyết lại đối với yêu cầu của bà H. Tòa án cấp sơ thẩm xác định công văn trên không làm phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H nên xác định không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án như trên là đúng, nên chấp nhận theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Võ Phương H do bà Võ Huỳnh Phương T đại diện, giữ y quyết định của cấp sơ thẩm xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Võ Phương H

- Giữ y quyết định của cấp sơ thẩm xử.

Xử:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 66/2017/TLST-HC ngày 08/12/2017 v/v khiếu kiện quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, giải quyết khiếu nại về đất đai và cưỡng chế thu hồi đất giữa:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Võ Phương H, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Khu phố 5, phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Võ Huỳnh Phương T, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu phố 1, phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thảo: Bà Trần Thị Bích T1

- Luật sư thuộc Văn phòng luật sư M, Đoàn luật sư tỉnh Ninh Thuận.

Người bị kiện:

+ Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Ninh Thuận.

+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Võ Phương H không được quyền khởi kiện lại vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 144 Luật tố tụng hành chính năm 2015

- Về án phí: Bà Nguyễn Võ Phương H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hành chính sơ thẩm. Ngày 28/11/2017, bà H dự nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0013862 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận, số tiền trên được chuyển qua thi hành phần án phí phải nộp như trên.

- Bà Nguyễn Võ Phương H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hành chính phúc thẩm. Ngày 13/4/2018, bà H dự nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0013997 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận, số tiền trên được chuyển qua thi hành phần án phí phải nộp như trên.

Quyết định này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2018.

Cỡ chữ