vanban.org

Quyết định 260/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1}. Về tình cảm: cho chị Đặng Thị H được li hôn với anh Đặng Văn H.

{2}. Về con chung: giao cháu Đặng Đức P, sinh ngày 21/6/2019 là con chung của vợ chồng cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Văn H do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Anh Đặng Văn H có quyền đi lại thăm nom con chung kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "56. Huyền- Hậu"
  • Tòa quyết gì? {1}. Về tình cảm: cho chị Đặng Thị H được li hôn với anh Đặng Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 80 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 260/2020/ HNGĐ- ST
Ngày: 30-9-2020
(V/v tranh chấp xin ly hôn và quyền
nuôi con chung)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Khắc Thiện và bà Vương Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Giáp- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: ông Nguyễn Chí Cường- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 197/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2020 về việc li hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: khối K, TT. Q, huyện N, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.

+ Bị đơn: Anh Đặng Văn H, sinh năm 1989.

Địa chỉ: khối K, TT. Q, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin li hôn đề ngày 21/7/2020 và các lời khai, biên bản phiên hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày: Chị và anh Đặng Văn H lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 30/12/2011; Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng liên tục phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, quan điểm sống khác biệt, không ai chịu thông cảm và hiểu cho nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay cuộc sống vợ chồng rơi vào tình trạng căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị xét thấy không còn tình cảm nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Đặng Văn H.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung nhưng một cháu đã mất; Hiện còn một cháu là Đặng Đức P, sinh ngày 21/6/2019. Nguyện vọng của chị là xin được tiếp tục nuôi cháu và chưa yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Đặng Văn H đã nhận được thông báo thụ lí vụ án, các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện, giấy triệu tập cũng như thông báo phiên họp và Quyết định đưa vụ án ra xét xử bằng cách niêm yết do bản thân anh đi làm ăn, đi về không có quy luật cụ thể nên không tống đạt trực tiếp được. Tuy nhiên, anh không hợp tác, không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến phản hồi và không tham gia các phiên họp theo quy định của pháp luật.

Qua xác minh tại địa phương thì xác định vợ chồng chị H và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chị H đã sống và nuôi con nhỏ hơn một tuổi từ trước đến nay.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56, 80, 81 và Điều 82 luật Hôn nhân và gia đình cho chị Đặng Thị H được li hôn với anh Đặng Văn H; Tiếp tục giao cháu Đặng Đức P cho chị H nuôi dưỡng như từ trước tới nay; tạm hoãn việc giải quyết đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn chưa yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1.} Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai các đương sự, họp phiên công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng.

Anh Đặng Văn H được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lí do; Chị Đặng Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật.

{2.} Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét ngày 30/12/2011, chị Đặng Thị H và anh Đặng Văn H đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn; không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại điều 8, điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp.

{2.1} Về tình cảm: Xét chị H và anh H kết hôn có đăng kí và hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng liên tục phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, quan điểm sống khác biệt dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nguyên nhân mâu thuẫn như chị H trình bày là có cơ sở. Mặc dù Tòa án triệu tập với mong muốn hòa giải, phân tích để vợ chồng quay về chung sống nhưng chị vẫn không có ý muốn đoàn tụ. Bản thân anh H không hợp tác với Tòa án để gìn giữ mối quan hệ vợ chồng. Xét nguyện vọng xin được li hôn của chị Đặng Thị H là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội nên cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị được li hôn với anh Đặng Văn H.

{2.2} Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Đặng Đức P, sinh ngày 21/6/2019. Từ khi sinh ra đến nay thì cháu đều sống với mẹ. Xét cháu còn nhỏ, từ trước đến nay đang sinh sống ổn định với mẹ. Chị H cũng tha thiết xin được tiếp tục trực tiếp nuôi con nên cần xem xét, tiếp tục giao cháu P cho chị nuôi dưỡng, giáo dục là hợp tình, hợp lí. Chưa giải quyết việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu đối với anh Đặng Văn H do chị H chưa yêu cầu.

{2.3} Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

{2.4} Về án phí: chị ĐặngThị H phải chịu 300.000đ án phí li hôn sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; 80, 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Xử:

{1}. Về tình cảm: cho chị Đặng Thị H được li hôn với anh Đặng Văn H.

{2}. Về con chung: giao cháu Đặng Đức P, sinh ngày 21/6/2019 là con chung của vợ chồng cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Văn H do nguyên đơn chưa có yêu cầu.

Anh Đặng Văn H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh H lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh H.

{3}.Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000đồng án phí li hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0004904 ngày 22.7.2020; chị H đã nạp đủ án phí.

{4}. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án

Cỡ chữ