- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H về việc xác nhận cha cho con.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình tuyên; Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình tuyên; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Sè: 26/2022/Q§- VDS | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Hà Đông, ngày 11 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, TP. HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Trương Thị Hạnh
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị H Nhung - Cán bộ Tòa án;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thùy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 601/2021/TL-VHNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2021 về yêu cầu xác định cha cho con theo Quyết định mở phiên họp số: 601/2021/QĐPH-VDS ngày 29 tháng 12 năm 2021.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
+ Anh Lê Văn H, sinh năm 1960. ĐHKTT: Ngõ B, phường B, quận M, thành phố H.
+ Chị Đỗ Thị H H, sinh năm 1979. ĐHKTT, trú tại: Khu đô thị mới K, phường K, quận Đ, thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Văn T, sinh năm 1971. ĐHKTT: Xóm B, xã T, huyện S, tỉnh H.
+ Cháu Lê H P, sinh ngày 12/10/2010. ĐHKTT: Lê H P. Người giám hộ cho cháu P là chị Đỗ Thị H H, sinh năm 1979.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H yêu cầu Tòa án “xác định cha cho con” đối với anh Lê Văn H và cháu Lê H P.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu và các lời khai, người yêu cầu là anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H trình bày: Anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H có một con chung là cháu Lê H P, sinh ngày sinh ngày 12/10/2010. Thời điểm đăng ký khai sinh cho cháu P, anh H và chị H không có đăng ký kết hôn và khi mang thai cháu P chị cũng không nói cho anh H biết nên anh H không đứng tên trên giấy khai sinh là cha đẻ của cháu P.
Vì muốn cháu P đi học, có giấy tờ đầy đủ, có bố có mẹ nên chị H đã nhờ anh Lê Văn T (là bạn của chị) đứng tên cha đẻ trong giấy khai sinh cho cháu P. Nay, anh Lê Văn H đề nghị Tòa án xác định anh Lê Văn H là cha đẻ của cháu Lê H P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T trình bầy: Ngày 12/10/2010, chị Đỗ Thị H H sinh một cháu trai đăng ký khai sinh tên là Lê H P là con giữa chị H và anh H. Do thời điểm đăng ký khai sinh cho cháu P, anh H và chị H không có đăng ký kết hôn nên anh H không đứng tên trên giấy khai sinh là cha đẻ của cháu P.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, người yêu cầu là anh Lê Văn H có đề nghị trưng cầu giám định huyết thống giữa anh và cháu Lê H P.
Ngày 13/12/2021, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã ra quyết định trưng cầu giám định gen của anh Lê Văn H và cháu Lê H P.
Tại bản kết luận giám định ADN số HT470.21/PY-XNSH ngày 20/12/2021 của Viện pháp y Quân Đội - Cục Quân Y kết luận: “Anh Lê Văn H và cháu Lê H P có quan hệ huyết thống cha con”.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu: Căn cứ vào bản kết luận giám định của Viện pháp y Quân Đội - Cục Quân Y kết luận: “Anh Lê Văn H và cháu Lê H P có quan hệ huyết thống cha con” nên có đủ căn cứ để xác định cháu Lê H P, sinh ngày 12/10/2010 là con chung giữa anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H. Do đó, đề nghị Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 88; khoản 2 Điều 101; Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H; xác định anh Lê Văn H là cha đẻ cháu Lê H P, sinh ngày 12/10/2010.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hà Đông nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có nơi cư trú tại ĐHKTT: Lê H P nên căn cứ Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ việc trên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết.
Về nội dung: Theo trình bầy của anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H thì anh và chị có một con chung là cháu Lê H P, sinh ngày 12/10/2010, tuy nhiên anh chị không có giấy đăng ký kết hôn theo quy định. Thời điểm đăng ký khai sinh cho cháu P, vì lý do cá nhân nên anh H không đứng tên trên giấy khai sinh là cha đẻ của cháu P. Do vậy, chị H đã nhờ anh Lê Văn T đứng tên cha đẻ trong giấy khai sinh cho cháu P. Giữa chị H và anh Truyền cũng không có giấy đăng ký kết hôn. Nay, anh H và chị H đề nghị Tòa án xác định anh Lê Văn H là cha đẻ của cháu Lê H P để thuận tiện cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cũng như việc thực hiện các giao dịch dân sự sau này liên quan đến quyền lợi của cháu P.
Căn cứ vào kết luận giám định ADN số HT470.21/PY-XNSH ngày 20/12/2021 của Viện pháp y Quân Đội - Cục Quân Y kết luận: “Anh Lê Văn H và cháu Lê H P có quan hệ huyết thống cha con”. Thấy rằng, yêu cầu của anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H về việc đề nghị Tòa án xác định anh Lê Văn H là cha của cháu Lê H P là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 88, khoản 2 Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu của anh H, chị H về việc yêu cầu xác định cha cho con.
Về lệ phí giải quyết việc Hôn nhân gia đình: Anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật nên được hoàn trả tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 88; khoản 2 Điều 101; Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình
- Căn cứ khoản 10 Điều 29; Điều 35; Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H về việc xác nhận cha cho con.
2. Tuyên bố anh Lê Văn H là cha đẻ của cháu Lê H P, sinh ngày 12/10/2010.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn H và chị Đỗ Thị H H thuộc trường hợp không phải nộp tiền án phí giải quyết việc dân sự.
Hoàn trả anh Lê Văn H số tiền lệ phí anh đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009552 ngày 13 tháng 12 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
4. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị giải quyết việc dân sự trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
N¬i nhËn:
| - TAND thành phố Hà Nội; - VKS quận Hà Đông; - THADS quận Hà Đông; - Người yêu cầu; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN Trương Thị Hạnh |