vanban.org

Quyết định 26/QĐ-TA

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/11/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/QĐ-TAH, ngày 18 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Tạ Chí Dũng.

2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú.

Ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại Phòng họp Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 26/QĐ-TA ngày 10 tháng 11 năm 2021 đối với:

Họ và tên: Trịnh Hoàng N.

Sinh ngày 10 tháng 6 năm 1999.

CCCD số: 091099003521. Ngày cấp: 19/8/2021.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 2/12.

Quê quán: OM – Cần Thơ.

Hộ khẩu thường trú: Ấp R, xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Ấp R, xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Tiền sự: 03 tiền sự: Ngày 07/4/2020 bị Trưởng C ng an xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0716/QĐ-XPHC, số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 0 / /2020 bị Trưởng C ng an xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0723/QĐ-XPHC, số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 25/5/2021 bị Chủ tịch UBND xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 132/QĐ-UBND, thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tiền án: Không.

Con ông: Trịnh Hoàng L và bà: Lâm Thị Bích P.

Vắng mặt tại phiên họp (không có lý do).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Lý Lâm Thúy Hoàng – Phó Trưởng Phòng Lao động – Thương binh & xã hội thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (Văn bản ủy quyền ngày 03/11/2021 của Trưởng phòng Lao động – Thương binh & xã hội thành phố H, tỉnh Kiên Giang).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang: Ông Lê Quốc Thắng – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 25/5/2021, Chủ tịch UBND xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với Trịnh Hoàng N thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trịnh Hoàng N đã chấp hành xong nhưng sau đó vẫn tiếp tục vi phạm, cụ thể vào ngày 01/10/2021, N đã sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà người bạn thuộc Khu phố X, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, sau đó bị C ng an xã Y phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 21/10/2021.

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy đối với Trịnh Hoàng N vào ngày 21/10/2021 của Trạm Y tế xã Y cho kết quả dương tính với Methamphetamine (có chất gây nghiện trong nước tiểu). Qua làm việc, N đã thừa nhận vào ngày 01/10/2021 có sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức là hút ma túy.

Ngày 22/10/2021, Chủ tịch UBND xã Y, thành phố H đã ra Quyết định số 1079/QĐ-UBND giao Trịnh Hoàng N cho gia đình để quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại C ng văn số 90/LĐTBXH ngày 03/11/2021 của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính về việc đưa Trịnh Hoàng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do nghiện ma túy.

Quá trình làm việc tại C ng an, Trịnh Hoàng N thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ đến nay, Trịnh Hoàng N kh ng có mặt tại địa phương, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng Trịnh Hoàng N kh ng có mặt tham gia phiên họp. Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H đề nghị Tòa án xem xét, quyết định đưa Trịnh Hoàng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang, thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu quan điểm: Quá trình thành lập hồ sơ của cơ quan C ng an, thẩm định của Phòng Tư pháp, đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H, cũng như việc thụ lý hồ sơ và các thủ tục tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N của Thẩm phán, Thư ký đảm bảo đúng trình tự, thủ tục luật định; những người tham gia phiên họp thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, riêng người bị đề nghị chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về đề nghị của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H về việc đề nghị Tòa án xem xét, quyết định đưa Trịnh Hoàng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang, thời hạn từ 18 đến 24 tháng là phù hợp nên cần chấp nhận.

XÉT THẤY:

Về sự vắng mặt của người bị đề nghị: Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định cho Trịnh Hoàng N nhưng N vẫn kh ng có mặt để tham gia phiên họp, vắng mặt kh ng có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/201 /UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp vắng mặt người bị đề nghị.

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Căn cứ bản tóm tắt lý lịch đối với Trịnh Hoàng N và các tài liệu khác có trong hồ sơ có cơ sở xác định Trịnh Hoàng N có nơi cư trú n định tại T 4, ấp R, xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ, đối tượng, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H đối với Trịnh Hoàng N đã thực hiện đúng quy định tại Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đ i, b sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Qua nghiên cứu hồ sơ và tại phiên họp xét thấy Trịnh Hoàng N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức hút ma túy vào ngày 01/10/2021 khi đến chơi nhà người bạn thuộc Khu phố X, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, sau đó bị C ng an xã Y phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 21/10/2021. Qua xét nghiệm chất ma túy đối với Trịnh Hoàng N vào ngày 21/10/2021 của Trạm Y tế xã Y cho kết quả dương tính với Methamphetamine (có chất gây nghiện trong nước tiểu).

Trịnh Hoàng N là người đã thành niên, hoàn toàn có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân nhưng vẫn bất chấp, lao vào con đường nghiện ngập nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh Hoàng N đã vi phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trịnh Hoàng N đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Y vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong nhưng vẫn vẫn còn nghiện. Vì vậy, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trịnh Hoàng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một thời gian phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, nhằm giúp N được chữa bệnh, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện để sau khi về tái hòa nhập cộng đồng, N sẽ trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tài liệu về lý lịch thể hiện Trịnh Hoàng N có nhân thân xấu, từng có nhiều tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa. Về tình tiết tăng nặng: N kh ng có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình làm việc tại cơ quan C ng an, N đã khai báo hành vi vi phạm, tuy nhiên sau đó lại trốn tránh, kh ng có ý thức nhận lỗi, kh ng tham gia phiên họp mà không có lý do, nên kh ng có cơ sở xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính cho N.

Xét ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H về việc đề nghị Tòa án xem xét, quyết định đưa Trịnh Hoàng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang là cần thiết và phù hợp quy định tại Điều 95 và Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/201 /UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII, nhằm giúp người nghiện có thời gian cắt cơn, cai nghiện, học tập, lao động, tạo điều kiện để Trịnh Hoàng N chấm dứt hành vi sử dụng ma túy, sớm tái hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N tại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết hợp lệ, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án c ng bố Quyết định.

. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà kh ng có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động –Thương binh & xã hội thành phố H, tỉnh Kiên Giang phối hợp với C ng an thành phố H, tỉnh Kiên Giang đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ