vanban.org

Quyết định 26/QĐ-TA

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 12/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số H, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, đối với: Ông Sơn T1, sinh ngày: 01/01/1989.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QD sơn t"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số H, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, đối với: Ông Sơn T1, sinh ngày: 01/01/1989.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/QĐ-TASóc Trăng, ngày 12 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thuận là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 78/QĐ -TA ngày 05 tháng 4 năm 2023, đối với:

Họ và tên: S: Nam.

Sinh ngày: 01/01/1989;

CCCD số: 094089008053; Ngày cấp: 23/9/2022; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C2.

Dân tộc: Khmer.

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 4/12.

Địa chỉ thường trú: Số F đường M, khóm F, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở hiện nay: Số F đường M, khóm F, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Nghề nghiệp: Làm công.

Tiền án: 01.

Tiền sự: 00.

Con ông Sơn C và bà Thạch Thị Vol Na .

Ông Sơn T1 có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng K, Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S là người đại diện theo ủy quyền, theo Giấy ủy quyền ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên (có mặt).

3. Đại diện Công an P, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Ông Lê Hoàng C1 – cán bộ Công an P, thành phố S (có mặt).

NHẬN THẤY:

Ông Sơn T1 là người có nơi cư trú ổn định. Ông T1 đăng ký cai nghiện ma túy tại gia đình và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế được theo Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 16/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố S.

Ngày 22/03/2023, Công an P, thành phố S nghi vấn ông Sơn T1 sử dụng trái phép chất ma tuý nên mời ông T1 về trụ sở làm việc và thu mẫu nước tiểu để test nhanh ma túy, kết quả ông Sơn T1 dương tính với chất ma túy. Qua làm việc ông T1 khai nhận ông bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018 và lần sử dụng ma túy gần nhất vào ngày 20/3/2023 ở bãi đất trống đường C, hình thức sử dụng là hút. Do đó, Công an P đề nghị Trạm y tế P1, thành phố S tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông T1. Tại Phiếu kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 23/03/2023, Trạm y tế Phường 9 xác định ông Sơn T1 có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là M. Ông Sơn T1 đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế được theo Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 16/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố S, nhưng bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 23/3/2023 Chủ tịch ủy ban nhân dân phường I, thành phố S ban hành quyết định số 167/QĐ-UBND về việc chấm dứt cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng đối với ông T1. Nên Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố S lập biên bản vi phạm số 01/BB-VPHC ngày 23/03/2023 về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường I, thành phố S lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T1.

Do đó, ngày 30 tháng 3 năm 2023, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S có văn bản đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Sơn T1.

* Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố S ông Đặng Hoàng K trình bày: Ông Sơn T1 là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, ông Sơn T1 nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đã được xác định là người đang cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý; Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020) và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sơn T1 với thời gian chấp hành là 20 tháng.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng đã thực hiện về trình tự, thủ tục đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Sơn T1 được tiến hành đúng trình tự thủ tục, thẩm quyền và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Sơn T1 theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với thời hạn 20 tháng

Ý kiến của ông Sơn T1 tại biên bản ghi lời khai ngày 22/03/2023 của Công an phường P, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và bản tường trình ngày 22/03/2023, lời thừa nhận của ông T1 tại phiên họp thì ông T1 thừa nhận đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lần cuối cùng sử dụng là ngày 20/3/2023. Ông T1 nhận thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của mình là sai.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, thấy rằng:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc đối với ông Sơn T1 đã tuân thủ đúng về đối tượng áp dụng, thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị, trình tự, thủ tục lập hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017, 2020); Khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý. Các tài liệu có trong hồ sơ được lập đầy đủ, đúng theo mẫu quy định tại Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 và Nghị định số 109/2021/NĐ-CP ngày 08/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy.

Tại phiên họp, ông Sơn T1 thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm như người đại diện cho cơ quan đề nghị trình bày. Lời thừa nhận của ông T1 phù hợp với bản tường trình của ông T1 ngày 22/03/2023; lời khai của ông T1 tại phiên họp, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận: Ông Sơn T1 đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế được theo Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 16/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố S, nhưng bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 23/3/2023 Chủ tịch ủy ban nhân dân phường I, thành phố S ban hành quyết định số 167/QĐ-UBND về việc chấm dứt cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng đối với ông T1. Tại Phiếu kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 23/3/2023, Trạm y tế Phường 9 xác định ông Sơn T1 có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là M. Do đó, Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố S lập biên bản vi phạm số 01/BB-VPHC ngày 23/3/2023 về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sơn T1. Ông Sơn T1 là người đã thành niên (đủ 18 tuổi), có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, ông Sơn T1 nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội và là người đang cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý; Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020).

Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: Lần cuối ông S T1 sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện và lập biên bản là ngày 22/3/2023 nên còn trong thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính:

Về tình tiết tăng nặng: Ông T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, ông T1 đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình, tự nguyện khai ra lần sử dụng ma tuý sau cùng là ngày 20/03/2023, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về nhân thân: Ông T1 không có tiền sự; có 01 tiền án bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 26/2020/HS-ST ngày 26/5/2020, chấp hành xong ngày 06/8/2022, chưa xóa án tích; bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 29/2011/HS-ST ngày 21/4/2011, chấp hành xong ngày 19/9/2011 đã được xóa án tích;

Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sơn T1 để giúp ông T1 dừng sử dụng chất ma túy, phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định pháp luật được Tòa án chấp nhận.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020);

Căn cứ vào khoản 2 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý;

Căn cứ vào Điều 20, 21, 22, 23, 24, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số H, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, đối với: Ông Sơn T1, sinh ngày: 01/01/1989.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S phối hợp với Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ