vanban.org

Quyết định 26/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B - Phú Thọ; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ có quyền kháng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B - Phú Thọ; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Phú Thọ.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/QĐ - TAPhú Thọ, ngày 31 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu T.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hòa.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 26/QĐ - TA ngày 24 tháng 12 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Phạm Văn N. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 14 tháng 01 năm 1989.

Số CCCD: 026089013298 ngày cấp 29/7/2023. Nơi cấp: Cục C về TTXH.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 12/12.

Hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị M.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần K - Cán bộ Công an xã T (theo giấy ủy quyền ngày 30/12/2025).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ: Bà Diệp Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm Văn N là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 4 năm 2025, loại ma túy sử dụng là heroin, hình thức sử dụng là hít. Ngày 10/12/2025, Nam được Công an xã T mời lên kiểm tra nước tiểu bằng hình thức xét nghiệm. Tại buổi làm việc, N đã tự thừa nhận ngày 09/12/2025 N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị phát hiện dương tính với ma túy khi xét nghiệm nước tiểu. Cùng ngày, N có giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy. Theo đó Trạm Y tế V thuộc Trung tâm Y tế K1 có kết quả xác định Phạm Văn N nghiện chất ma túy. Công an xã T đã lập biên bản yêu cầu Nam trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 11/12/2025 đến hết ngày 17/12/2025 phải đến Ủy ban nhân dân xã T để làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc đến Trung tâm Y tế K1 để đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện thay thế theo quy định nhưng hết thời hạn, Nam không tự nguyện đăng ký.

Tại biên bản ghi lời khai, bản tường trình ngày 10/12/2025 và biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 18/12/2025 của Công an xã T, N đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân đang nghiện ma túy, kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế V là khách quan. Ngày 22/12/2025, Công an xã T có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N.

Với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của N, Công an xã T đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2 - Phú Thọ với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N đảm bảo đúng trình tự thủ tục và đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 105, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020); Điều 27, Điều 28, khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị quyết 116/2021/NQ- CP; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.

Người bị đề nghị Phạm Văn N có mặt tại phiên họp, N thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đúng như bản tự khai, bản tường trình, các biên bản làm việc tại Công an xã T và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, thấy rằng:

Về tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Văn N đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh về tệ nạn ma tuý trong xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

Phạm Văn N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 09/12/2025. Ngày 10/12/2025, Công an xã T đã yêu cầu Nam trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 11/12/2025 đến hết ngày 17/12/2025 phải đến Ủy ban nhân dân xã T để làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc đến Trung tâm Y tế K1 để đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện thay thế theo quy định nhưng N không thực hiện là thuộc trường hợp “không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện” theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma tuý; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên họp N thừa nhận các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện N là người nghiện ma túy và đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm của mình, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. N không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của N đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng các chất ma tuý, góp phần để tệ nạn ma tuý gia tăng, gây hiểm họa cho toàn xã hội nói chung và gây tác hại cho sức khỏe, phẩm giá cũng như phá hoại hạnh phúc, tài sản của đối tượng và gia đình nói riêng. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N như đề nghị của Công an xã T và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ là phù hợp.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 106; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn N tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B - Phú Thọ; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Phú Thọ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ có quyền kháng nghị, Công an xã T có quyền kiến nghị quyết định này và người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành Quyết định: Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Công an xã T tổ chức thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

Cỡ chữ