- Tranh chấp gì? "Đàm Đình Q"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q.
- Căn cứ chính? Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 26/QĐ-TA | Phú Lương, ngày 30 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Ngô Hồng Nam.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định mở phiên họp số 28/QĐ-TA ngày 27 tháng 11 năm 2018 đối với: Họ và tên: Đàm Đình Q. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 31/01/2004. CMND: Chưa cấp; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12. Nguyên quán: Xã Y, huyện P, tỉnh T. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm S, xã Y, huyện P, tỉnh T. Nghề nghiệp: Học sinh; Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Đàm Văn M, sinh năm 1977 và bà: Phương Thị N, sinh năm 1979. Có mặt tại phiên họp. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Mạnh Hưng – Phó đội trưởng Đội CSĐTTP về HS-KT-MT C an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Kiểm sát viên. 3. Người giám hộ của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào trường giáo dưỡng: Chị Phương Thị N - Sinh năm 1979, trú tại: Xóm S, xã Y, huyện P, tỉnh T– Là mẹ đẻ của Đàm Đình Q.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q và B tường trình của Đàm Đình Q thấy:
Khoảng 22 giờ ngày 28/01/2018 tại quán “Bản mèo quán” của anh Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1986, trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh T có 02 nhóm Th niên ngồi ăn ốc, uống rượu tại 02 bàn (cách nhau khoảng 4m) gồm:
Nhóm thứ nhất có: 1- Dương Văn S (sinh năm 1999, HKTT: Xóm A, Y1, huyện P, tỉnh T); 2- Nguyễn Văn C (Sn 1999, HKTT: Xóm L, Y1, huyện P, tỉnh T); 3 – Đ2 Hiền Ng (Sinh ngày: 14/10/2002, HKTT: Xóm L, xã Y, huyện P, tỉnh T); 4 – Nông Văn C (SN: 1998, HKTT: Xóm B3, Y, huyện P, tỉnh T); 5 – Đàm Đình Q (sinh ngày 31/01/2004, HKTT: Xóm S, xã Y, huyện P, tỉnh T).
Nhóm thứ hai có: 1- ông Trần Ngọc Đ2, sinh năm 1962; 2- anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1992; 3- anh Hoàng Văn B2, sinh năm 1988; 4- anh Trần Văn T3, sinh năm 1990, đều trú tại xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh T.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày khi nhóm của S chuẩn bị ra về thì S đi đến bàn của ông Đ2 để hút thuốc lào (do điếu Cày của quán để tại bàn của ông Đ2). Lúc này do đã uống rượu nên Th nói với S “Chúng mày thích quẩy không, ra đường tao cho quẩy”; S nói “Bọn em có làm gì đâu mà anh nói thế”. Sau đó giữa Th và S xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, được anh B - chủ quán can ngăn nên nhóm của S ra về, còn ông Đ2, anh Th, anh B2, anh Th1vẫn tiếp tục ngồi uống rượu tại quán. Khi nhóm của S về cách quán “B mèo quán” khoảng 100m, do bực tức chuyện mâu thuẫn cãi nhau với anh Th nên S rủ: C, Ng, C và Q chặn đường để đánh nhóm anh Th. Được S rủ cả 04 đối tượng C, Ng, C và Q đều đồng ý và thống nhất sẽ tìm hung khí, chọn địa điểm để chặn đường đánh nhóm anh Th. Sau đó, S điều khiển xe máy chở C quay lại quán “ B mèo quán” nói to vào trong quán “chúng mày thích đánh nhau không” nhằm mục đích khiêu khích nhóm anh Th. Còn C, Ng và Q tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về hướng Bắc Kạn theo đường Quốc lộ 3 để tìm kiếm hung khí và chọn địa điểm để chặn đánh nhóm anh Th. Khi C, Ng, Q đi cách quán “B mèo quán” khoảng 200 m thì phát hiện tại lề đường bên phải theo chiều đi có một đống củi, gồm nhiều đoạn gỗ xoan xếp thành một đống nên C và Ng dừng xe lại mỗi người lấy một đoạn gỗ xoan có kích thước chiều dài khoảng 01m, chiều rộng khoảng 3cm dùng làm hung khí đánh nhóm anh Th. Sau khi lấy được 02 đoạn gỗ xoan, C, Ng và Q tiếp tục điều khiển xe máy đến Km 105 + 700m Quốc lộ theo hướng Thái Nguyên - Bắc Kạn, thuộc địa phận xóm Đ, Y, Phú Lương, Thái Nguyên thì dừng lại để đợi S và C. Khoảng 5 phút sau S và C đi đến, lúc này C và Ng bẻ 02 đoạn gỗ xoan ra thành 04 đoạn gậy, mỗi đoạn gậy có kích thước chiều dài khoảng 50cm, chiều rộng khoảng 3 cm. Sau đó C đưa cho S, C và Ng mỗi người một đoạn gậy gỗ xoan để dùng làm hung khí đánh nhóm anh Th. Lúc này, C lại nhìn thấy dưới đất gần rìa đường có một đoạn gỗ ổi dạng tròn, dài khoảng 90cm, đường kính khoảng 02 cm nên C đã vứt đoạn gỗ xoan đang cầm ra đường rồi nhặt đoạn gỗ ổi làm hung khí đế đánh nhóm anh Th. Cả nhóm của S đứng đợi khoảng 10 phút không thấy nhóm anh Th đi qua nên C bảo Q quay lại quán “ Bản mèo quán” xem nhóm anh Th đã về hay chưa. Q đồng ý và điều khiển xe mô tô một mình đến quán “ Bản mèo quán”. Khi đến quán Q thấy nhóm anh Th vẫn đang ngồi ở quán nên Q quay xe lại về báo tin cho S, C, Ng và C biết. Các đối tượng đứng đợi ở rìa đường Quốc lộ 3 khoảng 10 phút nữa vẫn không thấy nhóm anh Th đi qua nên S điều khiển xe mô tô chở C quay lại quán “ Bản mèo quán” để kiểm tra thì thấy nhóm anh Th vẫn đang ngồi trong quán nên S và C quay xe lại chỗ Ng, C, Q đang đứng đợi và tiếp tục chờ đợi chặn đánh nhóm anh Th. Các đối tượng đứng đợi tại rìa đường Quốc lộ 3 Thái Nguyên
- Bắc Kạn đoạn Km105 + 700m thuộc địa phận xóm Đ, Y đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì thấy anh B2 điều khiển xe mô tô chở ông Trần Ngọc Đ2, còn anh Hoàng Văn Th điều khiển xe mô tô đi một mình qua. Thấy vậy, S dùng tay phải cầm đoạn gậy gỗ xoan chuẩn bị từ trước giơ lên cao vụt từ trên xuống trúng vào vùng đầu bên trái của anh B2 làm gậy bị gẫy. Tiếp sau đó S cúi xuống tìm hung khí khác để đánh tiếp nhưng không có. Cùng lúc này C cầm 01 gậy gỗ ổi giơ lên cao vụt mạnh từ trên xuống trúng vào đầu anh B2 làm anh B2 bị choáng, ngã ra đường bất động; Ng lao vào dùng tay chân vật ngã ông Đ2 ngã nằm ngửa ra đường rồi Ng ngồi đè lên người ông Đ2, dùng tay phải đấm liên tục hai phát trúng vào vùng mặt của ông Đ2. C quay sang thấy Ng đang vật nhau với ông Đ2 nên C hô to về phía Ng: “Ng Bắc tránh ra”. Thấy C hô nên Ng hiểu ý, đứng dậy, không ngồi đè lên người ông Đ2 nữa. Ny lập tức C cầm đoạn gậy gỗ ổi giơ lên cao vụt mạnh một nhát từ trên xuống trúng vào đầu ông Đ2 làm ông Đ2 bị choáng ngất nằm im Ny tại đường Quốc lộ 3. Khi S, C, Ng đánh ông Đ2 và anh B2 thì C cầm đọan gậy gỗ xoan dài khoảng 50cm, rộng khoảng 3cm giơ lên cao vụt mạnh một phát trúng vào đầu anh Hoàng Văn Th và làm gậy bị gẫy. Sau khi gậy gẫy C tiếp tục nhặt một đoạn gậy gỗ khác ở đường, dài khoảng 90cm, vụt một phát trúng vào lưng anh Th làm anh Th ngã xuống ruộng cạnh đường. Lúc này C quay lại thấy ông Đ2 và B2 nằm im bất động dưới nền đường Quốc lộ 3, C cầm gậy giơ lên vụt 01 phát vào lưng ông Đ2 và 01 phát vào lưng anh B2. Quá trình các đối tượng S, C, Ng và C đánh anh Th, ông Đ2 và anh B2 thì Đàm Đình Q đứng cạnh quan sát, không tham gia đánh cùng. Khi xác định ông Trần Ngọc Đ2 và anh Hoàng Văn B2 nằm bất động không còn khả năng kháng cự nữa và không thấy anh Hoàng Văn Th ở đâu thì: C, S, C, Ng và Q điều khiển xe mô tô đi về nhà, vứt lại toàn bộ gậy gỗ sử dụng đánh nhau tại hiện trường. Còn ông Trần Ngọc Đ2 và anh Hoàng Văn B2 sau đó được người dân phát địa phương hiện đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa TW Thái Nguyên; anh Hoàng Văn Th bị thương nhẹ nên đã đến trạm y tế xã Y để sơ cứu vết thương và về tự điều trị tại nhà.
* Tại B kết luận giám định số 84/TgT ngày 27/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên đối với thương tích của anh Hoàng Văn B2 kết luận như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não: ổ khuyết xương sọ não vùng trán ( P) KT dài 6cm x rộng 4,5 cm; ổ tổn thương dập não, chảy máu não; tụ máu ngoài màng cứng; có 02 vết sẹo màu nâu nhạt vùng trán (P) KT TB.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 63% ( sáu mươi ba phần trăm ). Áp dụng phương pháp cộng lùi.
* Tại B kết luận giám định pháp y về thương tích số 85TgT ngày 27/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên đối với ông Trần Ngọc Đ2 kết luận như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não: khuyết xương sọ đường kính trên 10 cm: đụng đập, tụ máu trong nhu mô não thùy thái dương và đỉnh (T); Tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng đỉnh (T); Vùng đỉnh chẩm có sẹo mổ màu nâu nhạt KT: dài 13cm, rộng 3,5cm; Vùng thái dương đỉnh (T) có vết sẹo mổ hình chữ C dài 20cm, rộng 0,3cm.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 70% ( Bẩy mươi phần trăm ). Áp dụng theo phương pháp cộng lùi.
* Tại B kết luận giám định pháp y về thương tích số 263/TGT ngày 13/8/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên đối với anh Hoàng Văn Th kết luận như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định Sẹo vùng thái dương đỉnh (T) KT dài 3,5cm, rộng 0,2 cm.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 3% ( ba phần trăm ).
Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được ngày 10/5/2018 Cơ quan CSĐT- C an huyện Phú Lương đã ra Quyết định khởi tố Vụ án hình sự số 32, Quyết định khởi tố bị can số 26,27,28,29 đối với Dương Văn S, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn C và Đ2 Hiền Ng về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm b khoản 5 Điều 134 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đến ngày 29/5/2018 VKSND huyện Phú Lương đã ra Quyết định chuyển vụ án hình sự trên đến Cơ quan CSĐT - C an tỉnh Thái Nguyên để điều tra theo thẩm quyền.
Đối với Đàm Đình Q, mặc dù Q không trực tiếp tham gia dùng hung khí đánh ông Trần Ngọc Đ2, Hoàng Văn Th và Hoàng Văn B2 nhưng khi được S rủ chặn đánh nhóm anh Th thì Q đã đồng ý tham gia và còn điều khiển xe máy quay lại quán “B mèo quán” kiểm tra xem nhóm anh Th đã về hay chưa theo yêu cầu của C để về thông báo cho nhóm của S biết. Do đó hành vi của Q đã đồng phạm - vai trò “Người giúp sức” với Dương Văn S, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn C và Đ2 Hiền Ng về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm b khoản 5 Điều 134 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý). Tuy nhiên tính đến thời điểm xảy ra vụ án là ngày 28/1/2018 Q đạt 13 tuổi 11 tháng 28 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, Sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi vi phạm nêu trên của Đàm Đình Q đã vi phạm khoản 1 Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và do Cơ quan CSĐT - C an huyện Phú Lương tiếp nhận, thụ lý điều tra, xác M từ ban đầu cho nên căn cứ khoản 2 Điều 99 Luật xử lý vi phạm hành chính Công an huyện Phú Lương lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q.
Tại Công văn số 1613/ĐN-CAPL ngày 22/11/2018, Công an huyện Phú Lương đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q, thời hạn là 24 tháng, nơi chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng: Trường giáo dưỡng số 2, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên họp, đại diện Công an huyện Phú Lương giữ nguyên quan điểm đề nghị, căn cứ khoản 1 Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q, thời hạn 24 tháng.
Ý kiến của VKS: Quá trình lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Đàm Đình Q, Cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định hướng dẫn. Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán giải quyết đã tuân thủ theo đúng thủ các quy định của Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Sau khi xem xét hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với anh Đàm Đình Q, thời hạn là 24 tháng.
Ý kiến của người bị đề nghị và người giám hộ của người bị đề nghị: Người bị đề nghị không có ý kiến gì. Người giám hộ của người bị đề nghị có ý kiến cho gia đình xin bảo lãnh để quản lý Q ở nhà, nếu không được thì đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ thời hạn áp dụng biện pháp xử lý đối với Q.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, trên cơ sở ý kiến của những người tham gia phiên họp, thấy rằng:
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Đàm Đình Q cùng đồng phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích vào ngày 28/01/2018, như vậy, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Việc lập hồ sơ của Công an huyện Phú Lương đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 99, Điều 100 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về hành vi vi phạm hành chính: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của cơ quan đề nghị và lời khai của người bị đề nghị thấy rằng: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 28/01/2018, tại đoạn KM105+700m quốc lộ 3, thuộc địa phận xóm Đ, xã Y, huyện Phú Lương, Đàm Đình Q cùng Dương Văn S, Nguyễn Văn C, Đ2 Hiền Ng và Nông Văn C đã có hành vi dùng gậy gỗ đánh nhóm người gồm Trần Ngọc Đ2, Hoàng Văn B2, Hoàng Văn Th, kết quả gây tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh B2 là 63%, đối với ông Đ2 là 70%, đối với anh Th là 03%. Ngày 10/5/2018, cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với các đối tượng Dương Văn S, Nguyễn Văn C, Đ2 Hiền Ng, Nông Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 5 Điều 134 BLHS 2015. Đến ngày 29/5/2018, VKSND huyện Phú Lương đã ra Quyết định chuyển vụ án hình sự trên đến cơ quan CSĐT C an tỉnh Thái Nguyên để điều tra theo thẩm quyền, và tách vụ án để C an huyện Phú Lương lập hồ sơ xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Văn Q do Đàm Văn Q thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng khi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (khi thực hiện hành vi phạm tội Đàm Văn Q đạt 13 tuổi 11 tháng 28 ngày)
Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm của Đàm Đình Q là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự địa phương. Do vậy, Đàm Đình Q phải chịu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Điều 91: Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
“1. Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại điều 92 Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng.”
Khoản 1 Điều 92: Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
“1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.”
Như vậy, Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Đàm Đình Q được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là tình nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Đàm Đình Q phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là vi phạm hành chính có tổ chức theo điểm a khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về nhân thân: Đàm Đình Q xuất thân từ gia đình lao động thuần túy. Theo nhận xét của trường THCS Y, huyện P: Đàm Văn Q không chịu học tập, ham chơi, thường xuyên nghỉ học không xin phép, vi phạm các nội quy của nhà trường như: hút thuốc lá, đánh nhau.
Xét đề nghị của Công an huyện Phú Lương, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, người bị đề nghị, người giám hộ của người bị đề nghị là có căn cứ nên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q theo quy định tại điều 92 Luật xử lý hành chính để quản lý, giáo dục Q trở thành người có ích cho xã hội. Và Tòa án cũng xem xét giảm thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Q so với mức đề nghị của cơ quan đề nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 91, khoản 1 Điều 92, khoản 2 Điều 105, khoản 2 Điều 9, điểm a khoản 1 Điều 10, Điều và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của UBTVQH về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đàm Đình Q.
2. Thời gian chấp hành tại trường giáo dưỡng là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi trường giáo dưỡng.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người đại diện theo pháp luật của người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án Công bố quyết định. Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án Công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Phú Lương có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND Phú Lương; - CA huyện Phú Lương; - Người bị đề nghị; - Người giám hộ của người bị đề nghị; - UBND xã Y; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Ngô Hồng Nam |