vanban.org

Quyết định 26/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với Lê Đình H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lê Đình H được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với Lê Đình H.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 2 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2025/QĐ-TAP, ngày 08 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Đỗ Tấn T

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Thùy Duyên

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 25/QĐ-TA ngày 28 tháng 3 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Lê Đình Hải S ngày: 07/3/1995

Giới tính: Nam

CCCD số: 070091000217 Ngày cấp: 13/4/2021 Nơi cấp: Cục C về TTXH;

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ văn hóa: 12/12; Nguyên quán: Hà Nội.

Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Con ông: Lê Văn S và bà Chu Thị N.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Trưởng Công an xã B, huyện P: Ông Trần Nguyễn Vũ T1 – Công an viên. (có mặt)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Bà Nguyễn Thị Tới - Kiểm sát viên. (có mặt)

NHẬN THẤY:

Lê Đình H bị Trưởng Công an xã B, huyện P đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

Lê Đình H bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2024. Loại ma túy mà Lê Đình H sử dụng là ma túy đá với hình thức sử dụng là hút trực tiếp vào cơ thể.

Ngày 19/3/2025, Lê Đình H bị Công an xã B thực hiện xét nghiệm chất ma túy và theo phiếu kết quả thì kết luận dương tính với chất ma túy. Tại Bản tường trình và biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2025, Lê Đình H thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy đá lần cuối cùng là ngày 18/3/2025, tần suất sử dụng là 02 tháng sử dụng 01 lần. Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Công an xã B và Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/3/2025 của Trạm y tế xã B kết luận về tình trạng của Lê Đình H là: Dương tính (+) với chất ma túy đá. Ngày 21/3/2025, Lê Đình H bị Công an xã B lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy để xử lý theo quy định.

Ngày 21/3/2025, Công an xã B ra Thông báo số 01/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đình H và đã giao cho Lê Đình H thông báo này cùng ngày.

Ngày 21/3/2025, Trưởng Công an xã B ra Quyết định số 01/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo đó giao bà Chu Thị N là mẹ ruột của Lê Đình H có trách nhiệm quản lý H từ ngày 21/3/2025 đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án.

Ngày 24/3/2025, Trưởng Công an xã B, huyện P có văn bản đề nghị số 01/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đình H tại Trung tâm C1 Công an tỉnh B (địa chỉ: Ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước) với thời gian áp dụng là 20 đến 22 tháng.

- Ý kiến của đại diện Trưởng Công an xã B, huyện P: Lê Đình H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trưởng Công an xã B, huyện P đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đình H thời gian là 20 đến 22 tháng để H có đủ thời gian cai nghiện, từ bỏ ma túy, trở về xã hội làm người công dân tốt.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P:

+ Về thủ tục xem xét áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đình H: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn mở phiên họp, xác định đúng tư cách người tham gia phiên họp.

+ Về nội dung: Hồ sơ được lập theo đúng quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020), Điều 7, 8 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý vấn đề liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước do Bộ trưởng Bộ C2 - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành (Viết tắt là Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025). Có đủ cơ sở để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đình H nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện P áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như ý kiến của đại diện Trưởng Công an xã B, huyện P.

Sau khi nghe ý kiến của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện P; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị;

XÉT THẤY:

* Về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị:

Tài liệu trong hồ sơ đề nghị đầy đủ, đúng theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 và khoản 1 Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy (sau đây viết tắt là Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021)

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 và 2020).

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị:

- Trưởng Công an xã B, huyện P lập hồ sơ đề nghị là đúng theo thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, ngày 21/3/2025, Công an xã B ra Thông báo số 01/TB-CAX về việc lập hồ sơ và cùng ngày Lê Đình H đã nhận được thông báo. Hết thời hạn đọc hồ sơ, ngày 24/3/2025, Trưởng Công an xã B gửi văn bản đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và hồ sơ cho Tòa án. Như vậy, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị là đảm bảo quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Lê Đình H thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định H có hành vi sử dụng chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/3/2025 của Trạm y tế xã B xác định Hải dương tính với chất ma túy. Do đó, có đủ căn cứ kết luận H đã vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Lê Đình H có nhân thân xấu, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 01 tháng 29 ngày về tội “Giết người” theo Bản án số 243/HSPT ngày 24/4/2015.

Tình tiết giảm nhẹ: Không có.

Mức độ nhận thức của người bị áp dụng

Lê Đình H là đối tượng nghiện ma túy, là người đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bản thân nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy (Ma túy đá) là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện nên vẫn cố tình thực hiện.

Ngày 21/3/2025, H đã bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và theo bản tường trình, biên bản lấy lời khai, bản lý lịch tóm tắt, H thừa nhận không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện. Căn cứ vào khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 thì H là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hành vi của Lê Đình H không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Do đó, để đảm bảo an toàn cho xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác tại địa phương đồng thời tạo điều kiện để Lê Đình H có cơ hội sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước là phù hợp.

Đề nghị của Trưởng Công an xã B, huyện P áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đình H là phù hợp nên được chấp nhận một phần.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện P được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điểm d khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy;

Căn cứ các Điều 3, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96 , Điều 107 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017 và 2020);

Căn cứ Điều 40, khoản 1 Điều 41, 42 của Nghị định 116/NĐ – CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý cai nghiện ma túy;

Căn cứ Điều 7, 8 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý vấn đề liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước do Bộ trưởng Bộ C2 - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành;

Căn cứ các Điều 2, 3, 21, 23, 24, 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với Lê Đình H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Lê Đình H được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định.

Trưởng Công an xã B, huyện P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện P có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã B, huyện P có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ