- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 26/2024/QĐST-HNGĐ |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 28
tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Anh Phạm Minh K, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật
Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày
11 tháng 7 năm 2024,
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên
bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 11 tháng 7 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly
hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Minh T và anh Phạm
Minh K.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về con chung: Chị Trần Thị Minh T và anh Phạm Minh K có 02 (hai) con
chung là Phạm Gia B, sinh ngày 24/11/2011 và Phạm Minh E, sinh ngày 27/02/2017. Hiện nay 02 (hai) con Phạm Gia B và Phạm Minh E đang sống chung với chị Trần Thị Minh T.
Khi ly hôn, hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế, nguyện vọng
cũng như quyền lợi về mọi mặt của con như sau: Giao con Phạm Gia B, sinh ngày 24/11/2011 (như nguyện vọng của con) cho chị Trần Thị Minh T và giao con Phạm Minh E, sinh ngày 27/02/2017 (như nguyện vọng của con) cho anh Phạm Minh K trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các con thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình kể từ ngày 11 tháng 7 năm 2024.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích cho chị T và anh K biết quyền
yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của người trực tiếp nuôi con nhưng chị T và anh K vẫn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, hiện tại chị T và anh K không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Chị Trần Thị Minh T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung
với anh Phạm Minh K. Anh Phạm Minh K có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với chị Trần Thị Minh T.
Sau khi ly hôn, chị Trần Thị Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở. Anh Phạm Minh K cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Trần Thị Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Nếu chị Trần Thị Minh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì anh Phạm Minh K có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của chị Trần Thị Minh T.
Sau khi ly hôn, anh Phạm Minh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở. Chị Trần Thị Minh T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Phạm Minh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Nếu anh Phạm Minh K lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì chị Trần Thị Minh T có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh Phạm Minh K.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân,
tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định về việc cấp dưỡng.
Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Trần Thị Minh
T và anh Phạm Minh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Thuận tình ly hôn các đương sự chỉ
phải chịu 50% án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng x 50% = 150.000 đồng, trong đó chị T phải chịu 75.000 đồng và anh K phải chịu 75.000 đồng. Chị T tự nguyện nộp toàn bộ tiền án phí là 150.000 đồng cả phần của anh K nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0003078 ngày 28/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Hoàn trả lại cho chị T số tiền 150.000 đồng.
Trong trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- TAND tỉnh Gia Lai;
- VKSND huyện Đ;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- UBND xã Y;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Quang Đức