- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lành Thị N. Chị Lành Thị N được ly hôn với anh Nông Văn X.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ – ST Ngày: 27 - 3 -2023 V/v "Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thận và ông Trần Đức Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 138/2023/TLST- HNGĐ, ngày 29 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXX - ST ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Lành Thị N, sinh năm: 1994
Địa chỉ: Thôn 7, xã C, huyện E, tỉnh Đăk Lăk
- Bị đơn: Nông Văn X,
sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn 9, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
(Nguyên đơn, bị đơn có văn bản vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16/01/2023 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Lành Thị N trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nông Văn X tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 11/3/2015. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không có tiếng nói chung bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cải vả, anh X thường xuyên đánh đập chị. Chị và anh X đã sống ly thân từ tháng 4 (âm lịch) năm 2022 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay tôi thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài hôn nhân thêm được nữa. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nông Văn X.
Về con chung: Tôi và anh X có 01 người con chung, họ tên là Nông Gia H, sinh ngày 20/9/2015. Sau khi ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nông Gia H.Từ khi tôi và anh X sống ly thân cho đến nay thì tôi là người trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng cháu H.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản lời khai, bị đơn anh Nông Văn X trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Lành Thị N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 11/3/2015. Trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chúng tôi không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cải vả, tôi thừa nhân có ham chơi, làm mất mát tài sản trong gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Tôi và chị X đã sống ly thân từ tháng 4 âm lịch năm 2022 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân thì mạnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị N yêu cầu ly hôn với tôi thì tôi đồng ý.
Về con chung: Tôi và chị N có một người con chung, họ tên là Nông Gia H, sinh ngày 20/9/2015. Sau khi ly hôn, tôi đồng ý giao cháu Nông Gia H cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tôi được quyền thăm nom con chung theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết.
Nguyên đơn chị N và bị đơn anh X có văn bản đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa: Về thủ tục tố tụng: Thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị N được ly hôn với anh X; về con chung: Giao cháu Nông Gia H, sinh ngày 20/9/2015 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. về cấp dưỡng, tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện của chị Lành Thị N yêu cầu được ly hôn với anh Nông Văn X cư trú tại thôn 9, xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; chị N và anh X tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Nguyên đơn chị N và bị đơn anh X có văn bản đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lành Thị N yêu cầu ly hôn với anh Nông Văn X, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị N và anh X tự nguyên chung sống, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống do vợ chồng không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, chị và anh X đã sống ly thân một khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, phía bị đơn anh X cũng thừa nhận sự việc này. Trong thời gian sống ly thân chị N và anh X không có sự chăm sóc, chia sẻ cho nhau, dẫn đến hôn nhân không đạt được mục đích. Như vậy, chị N và anh X đã có sự vi phạm về nghĩa vụ của người vợ, người chồng đối với nhau; cụ thể: không còn sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh X lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích, nay chị N yêu cầu ly hôn với anh X, tại biên bản lời khai anh X cũng đồng ý ly hôn với chị N. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị N là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị N và anh X có một người con chung, họ tên là Nông Gia H, sinh ngày 20/9/2015. Sau khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Tại biên bản lời khai, anh X cũng đồng ý giao cháu H cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con”; căn cứ theo biên bản lời khai của cháu Nông Gia H thì cháu H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Lành Thị N. Vì vậy, cần giao cháu Nông Gia H cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo luật định.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật và cùng với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81,82,83,84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35;Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lành Thị N. Chị Lành Thị N được ly hôn với anh Nông Văn X.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18/2015, quyển 01/2015, ngày 11/3/2015 của Ủy ban nhân dân xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật.
2.Về con chung: Giao cháu Nông Gia H, sinh ngày 20/9/2015 cho chị Lành Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
3.Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lành Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000859, ngày 30/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi Nhận:
| - TAND tỉnh Bình phước; - VKSND h. Bù Đăng; - CC THADS h. Bù Đăng; - UBND xã (thị trấn); - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hà |