vanban.org

Quyết định 26/2021/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Hồng N và anh Khuất Văn M.

Công nhận sự thoả thuận của các bên về các nội dung sau: 1. Về con chung: Anh chị cùng xác nhận có 01 con chung là cháu Khuất Nhật A, sinh ngày 25/10/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N xin ly hôn anh M"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Hồng N và anh Khuất Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 24 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2021/QĐHG-HNGĐTT, ngày 19 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT

Căn cứ vào các Điều 32, 33, 24, 35 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ hồ sơ hòa giải việc Hôn nhân và gia đình số: 25/2021/HG–HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2021 về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con chung khi ly hôn giữa những người yêu cầu:

1. Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 1997

2. Anh Khuất Văn M, sinh năm 1993

Cùng địa chỉ: Thôn 8, xã HN, huyện TT, TP. Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH

[1] Tại biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án do Hòa giải viên lập ngày 02 tháng 7 năm 2021 các bên đã thỏa thuận và yêu cầu Tòa án ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành về các nội dung sau:

1.1. Chị Nguyễn Hồng N và anh Khuất Văn M kết hôn ngày 18/3/2016 trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HN, huyện TT, Thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị N và anh M sống ly thân được 2 năm nay và cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất đề nghị Toà án nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội công nhận cho thuận tình ly hôn.

1.2. Về con chung: Anh chị cùng xác nhận có 01 con chung là cháu Khuất Nhật A, sinh ngày 25/10/2016.

Chị N và anh M thỏa thuận giao cháu Nhật A cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác.

Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M trong thời gian chị N không yêu cầu.

1.4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N và anh M không có tài sản chung và nợ chung.

[2] Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Hòa giải viên lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án, không có bên nào nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó. Nội dung thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Hồng N và anh Khuất Văn M.

2. Công nhận sự thoả thuận của các bên về các nội dung sau:

2.1. Về con chung: Anh chị cùng xác nhận có 01 con chung là cháu Khuất Nhật A, sinh ngày 25/10/2016.

Chị N và anh M thỏa thuận giao cháu Nhật A cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác. Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu cấp dưỡng, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh M đến khi cháu Khuất Nhật A trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác.

2.3. Về tài sản và công nợ chung: Chị N và anh M không có tài sản chung và nợ chung.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ