- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 09/QĐ-VC1-HS ngày 30/3/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––––––––– Quyết định số: 26/2020/HS-GĐT Ngày 25 tháng 7 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Phúc
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: - Ông Trần Văn Tuân
- Ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Quỳnh Trang - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 25 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Bùi Hữu V, sinh năm 1964; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại B2, xã Ch, huyện Q, tỉnh A; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa phổ thông: 4/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Bùi Hữu X và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con;
Tiền án:
(1) Ngày 14/5/1999, Tòa án nhân dân tỉnh A xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
(2) Ngày 27/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố I, tỉnh A xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1978; địa chỉ: Bản K, xã Ch, huyện Q, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 19/7/2018 tại Trại chăn nuôi bò sữa của anh Nguyễn Bá G ở đồi Tr thuộc bản K, xã Ch, huyện Q, do trời mưa và thấy cổng trại không khóa nên anh Nguyễn Văn N đi vào trong trại với mục đích tìm đá đỏ trong bãi đất trống mới được san lấp, khi đi có cả cháu Lê Thị V K con chị Nguyễn Thị H (là em gái của anh N) cùng vào. Khi anh N đang cầm ô đi trên bãi đất trống tìm đá đỏ thì Bùi Hữu V là bảo vệ của trang trại nói anh N đi ra nhưng anh N không ra và nói “Tao tìm đá đỏ thì việc gì?”, V nói “Tao là V còi bảo vệ ở đây” nhưng anh N vẫn không ra và hai bên cãi nhau. V nhặt một hòn đá ném vào người anh N trúng chiếc ô làm ô bị rách và hòn đá trúng vào mặt của anh N gây ra vết thương rách da chảy máu tại vùng đuôi lông mày trái kích thước 2,5 x 0,3cm. Tiếp đó V vào trong nhà bảo vệ cầm một con dao quắm chạy ra để đuổi đánh anh N thì cháu V K ôm V lại, thấy xô xát thì chị Nguyễn Thị H là em gái anh N chạy đến thì V bỏ đi. Anh N được gia đình đưa đến Bệnh việc Đa khoa khu vực B, A điều trị từ ngày 19/7/2018 đến ngày 23/7/2018 ra viện.
Theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 24/7/2018, anh Nguyễn Văn N bị một vết thương ở vùng đuôi lông mày trái gần thái dương kích thước 2,5 x 0,3 cm.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 240/TTPY ngày 08/8/2018, Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận:
"Tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn N do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 03%".
Anh Nguyễn Văn N yêu cầu Bùi Hữu V bồi thường các chi phí cho việc cứu chữa và các thiệt hại khác là 21.934.598 đồng.
Trong quá trình điều tra, Bùi Hữu V đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại 2.000.000 đồng, nhưng người bị hại từ chối nhận bồi thường nên bị cáo đã nộp tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh A để bồi thường cho bị hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 21/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh A áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Bùi Hữu V 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án.
Ngày 05/12/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A ban hành Quyết định số 2243/QĐ-VKS-P7, kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh A; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh A xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm, sửa án sơ thẩm theo hướng không cho bị cáo Bùi Hữu V được hưởng án treo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 87/2019/HS-PT ngày 14/6/2019, Tòa án nhân dân tỉnh A áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Bùi Hữu V 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 09/QĐ-VC1-HS ngày 30/3/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 87/2019/HS-PT ngày 14/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh A; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 87/2019/HSPT ngày 14/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh A về phần hình phạt để xét xử phúc thẩm lại theo hướng không cho bị cáo Bùi Hữu V được hưởng án treo.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bùi Hữu V có 02 tiền án, cụ thể: Ngày 14/5/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh A xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 27/9/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố I, tỉnh A xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018.
Mặc dù chưa được xóa án tích nhưng vào ngày 19/7/2018, Bùi Hữu V lại có hành vi dùng một hòn đá ném vào người anh Nguyễn Văn N gây ra thương tích cho anh N.
Theo kết luận giám định pháp y về thương tích, anh N bị thương tích tỷ lệ 03%. Như vậy, Bùi Hữu V đã có 02 tiền án, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Khi xét xử phúc thẩm, mặc dù Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị cáo V có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhưng đối chiếu với quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì người phạm tội thuộc trường hợp "tái phạm, tái phạm nguy hiểm" không được hưởng án treo. Do đó, việc Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt Bùi Hữu V 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là không đúng; không đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 382; khoản 3 Điều 388; Điều 391 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 09/QĐ-VC1-HS ngày 30/3/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
2. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 87/2019/HSPT ngày 14/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh A về phần hình phạt đối với bị cáo Bùi Hữu V;
3. Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh A để xét xử phúc thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - Bị cáo Bùi Hữu V; - TAND tỉnh A (kèm hồ sơ vụ án); - VKSND tỉnh A ; - Cơ quan THA hình sự CA tỉnh A; - Cục THADS tỉnh A ; - Lưu: VT, Phòng HCTP, Phòng 1, HSVS, Đ2T. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hồng Phúc |