vanban.org

Quyết định 26/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 31/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Phương L;

Tuyên bố ông Trần Văn C, sinh năm 1936 và bà Trần Thị Hoàng Y, sinh năm 1961; cùng địa chỉ cư trú cuối cùng: số nhà T1, đường T2, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là đã chết. Ngày chết của ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y được xác định là ngày 04/12/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Phương L;
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2019/QĐST-VDSTP. Vĩnh Long, ngày 31 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Tú - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2019/TLST-VDS ngày 20 tháng 6 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 992/2019/QĐST-VDS ngày 21 tháng 10 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Phương L, sinh năm 1960 (có mặt)

Nơi cư trú: số nhà H, đường T, phường B, Quận H1, Thành phố H2 (Cư xá Đ)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn C, sinh năm 1936 (vắng mặt)

2. Bà Trần Thị Hoàng Y, sinh năm 1961 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú cuối cùng: số nhà T1, đường T2, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu đề ngày 31/5/2019, bà Trần Thị Phương L trình bày:

Ông Trần Văn C là cha bà L. Bà Trần Thị Hoàng Y là em ruột bà L. Năm 1985, ông Trần Văn C mất tích, không liên lạc về gia đình. Năm 1995, bà Trần Thị Hoàng Y tiếp tục mất tích, không liên lạc về gia đình. Sự việc mất tích của ông C, bà Y đã được Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long giải quyết bằng Quyết định số 89/2014/VDS-ST, ngày 17/11/2014 đã tuyên bố ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y mất tích. Nay đã gần 05 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực ông C, bà Y còn sống. Bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông C, bà Y là đã chết để thực hiện thủ tục thừa kế tài sản.

Tại phiên họp giải quyết việc dân sự: Bà L giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long:

Trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đều tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự đều thực hiện đúng quy định pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp căn cứ quy định tại các Điều 369, 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà L là người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông C, bà Y là đã chết. Ông C, bà Y có địa chỉ cư trú cuối cùng tại thành phố V nên thẩm quyền giải quyết việc dân sự thuộc Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long. Vì vậy, thủ tục tố tụng trong việc dân sự đảm bảo quy định tại các Điều 27, 35, 39, 391 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Sau 03 năm kể từ ngày Quyết định số 89/2014/VDS-ST, ngày 17/11/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long có hiệu lực pháp luật, đã tuyên bố ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y mất tích nhưng vẫn không có tin tức xác thực ông C, bà Y còn sống. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà L, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin ông C, bà Y trên phương tiện thông tin đại chúng. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên trên báo, Đài, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng vẫn không có thông tin gì về ông C, bà Y. Vì vậy, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L, tuyên bố ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y là đã chết.

Quyết định số 89/2014/VDS-ST, ngày 17/11/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật từ ngày 03/12/2014. Đây là ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị 07 ngày của các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và hết thời hạn kháng nghị 15 ngày của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011. Theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ngày chết của ông C, bà Y được xác định “Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Như vậy, ngày chết của ông C, bà Y được xác định là ngày sau 03 năm của ngày 03/12/2014 là ngày 04/12/2017.

Lệ phí: Bà L nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự và chịu toàn bộ chi phí 5.400.000đ đăng, phát thông báo tìm kiến thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long có căn cứ để chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, các Điều 35, 39, 369, 370, 391 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 71, 72 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Phương L;

Tuyên bố ông Trần Văn C, sinh năm 1936 và bà Trần Thị Hoàng Y, sinh năm 1961; cùng địa chỉ cư trú cuối cùng: số nhà T1, đường T2, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là đã chết.

Ngày chết của ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y được xác định là ngày 04/12/2017.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y là đã chết:

Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hoàng Y được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Phương L nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, khấu trừ tạm ứng lệ phí 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai số No 0004610 ngày 12/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long nên bà Trần Thị Phương L được nhận lại 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).

Bà Trần Thị Phương L chịu toàn bộ chi phí 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm ngàn đồng) đăng, phát thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết.

Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ