- Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu T - Bị truy tố tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 23/QĐ-VC2 ngày 25/02/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 387 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 26/2019/HS-GĐT Ngày 27 tháng 8 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tuấn.
+ Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Lê Tự và ông Phạm Việt Cường.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vương Thị Lan - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Người bị kết án: Châu T (hay gọi Th), sinh năm 1992; Nơi cư trú: K43/6 đường N, tổ 51 mới (tổ 6 cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Thiết kế xây dựng; Con ông Châu Th1 và bà Phạm Thị L; Tiền sự, tiền án: chưa.
Bị cáo hiện đang tại ngoại.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng tháng 2/2017, sau nghe Châu T giới thiệu mình là giảng viên trường Đại học D, thành phố Đà Nẵng có khả năng cấp văn bằng thật của nhà trường không cần qua quá trình học tập nên anh Đinh Hà T1 đã nhờ bị cáo làm giúp 01 bằng Cao đẳng để được xét nâng bậc lương, bị cáo nhận lời làm bằng Cao đẳng cho anh T1 với giá tiền 18.000.000 đồng. Ngày 27/02/2017, anh T1 đưa trước cho bị cáo 10.000.000 đồng. Khoảng 3, 4 ngày sau bị cáo giao bằng cho anh T1 và nhận số tiền còn lại 8.000.000 đồng. Anh T1 kiểm tra bằng T đưa, phát hiện ghi sai giới tính nên yêu cầu T sửa chữa. Sau một tuần, T đem bằng “Cao đẳng” mới đưa cho anh T1 và thu hồi lại bằng in sai giới tính.
Ngày 16/4/2017, anh T1 tiếp tục nhờ bị cáo làm bằng Cử nhân cho chị Phạm Thị Yến N1, bị cáo nhận lời với giá là 30.000.000 đồng. Anh T1 đưa trước cho bị cáo 20.000.000 đồng. Ngày 20/5/2017, bị cáo giao cho anh T1 bằng "Cử nhân” của chị Phạm Thị Yến N1 và nhận số tiền còn lại 10.000.000 đồng. Anh T1 kiểm tra bằng của chị N1, phát hiện là bằng "Cử nhân” giả nên anh T1 đòi T trả lại tiền, nhưng T không trả. Anh T1 trình báo Cơ quan điều tra.
Tại Bản kết luận giám định số 420/GĐ-HS ngày 16/8/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng đã kết luận: Văn bằng “Cao đẳng” mang tên Đinh Hà T1 và văn bằng “Cử nhân” mang tên Phạm Thị Yến N1 đều là làm giả, không phải do trường Đại học D thành phố Đà Nẵng cấp phát.
Quá trình điều tra bị cáo khai 03 văn bằng nêu trên bị cáo đặt làm qua mạng xã hội với một đối tượng tên "Mr.Long", giá làm giả một văn bằng là 12.000.000 đồng. Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của nên chưa có cơ sở xử lý đối với Mr.Long.
Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại có đơn xin bãi nại giảm hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2018/HS-ST ngày 05-7-2018, Tòa án nhân dân quận T2, thành phố Đà Nẵng áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Châu T 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 13/7/2018, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 185/2018/HSPT ngày 02-11-2018, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 23/QĐ-VC2 ngày 25/02/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy Bản án hình sự phúc thẩm và Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại đối với bị cáo T về hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” theo Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 và đề nghị tăng hình phạt, không cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm kháng nghị; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tội danh: Tòa án hai cấp xét xử bị cáo Châu T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, là đúng quy định pháp luật. Đối với hành vi phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo T không phải là giảng viên trường Đại học D và không có thẩm quyền cấp các văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Bộ Giáo dục, nhưng nhận làm bằng Cao đẳng do trường Đại học D cấp không phải qua học tập cho anh Đinh Hà T1 với giá 18.000.000 đồng và làm bằng Cử nhân cho chị Phạm Thị Yến N1 với giá 30.000.000 đồng. Để làm được hai văn bằng này, bị cáo vào mạng xã hội liên hệ với một đối tượng tên Mr.Long và mặc dù biết Mr.Long làm giả bằng cao đẳng, cử nhân để bán với giá rẻ, nhưng bị cáo vẫn đặt Mr.Long làm giả bằng “Cao đẳng” cho anh T1 02 lần và làm giả bằng “Cử nhân” cho chị N1 01 lần để lấy tiền chênh lệch. Hành vi này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” được quy định tại Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tòa án hai cấp không xem xét hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” đối với bị cáo T là bỏ lọt tội phạm.
Về hình phạt: Bị cáo phạm tội nhiều lần (điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015), số tiền bị cáo chiếm đoạt 48.000.000 đồng gần mức định lượng cao nhất của khung hình phạt (khoản 1 Điều 139 BLHS 1999) nên Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt bị cáo 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo là không đúng pháp luật.
Do đó, Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nêu trên là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 382; Điều 387; khoản 3 Điều 388; Điều 391 và Điều 396 Bộ luật tố tụng Hình sự;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 23/QĐ-VC2 ngày 25/02/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 185/2018/HSPT ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2018/HSST ngày 05/7/2018 của Tòa án nhân dân quận T2, thành phố Đà Nẵng để điều tra lại đối với bị cáo Châu T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” theo đúng quy định của pháp luật.
2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để điều tra lại theo thủ tục chung./.
| Nơi nhận - TANDTC (Vụ 1) ; - VKSNDCC tại Đà Nẵng (02 bản, kèm hồ sơ vụ án); - TAND thành phố Đà Nẵng; - TAND quận T2; - VKSND quận T2; - Công an quận T2; - Bị cáo Châu T (theo địa chỉ); - Người bị hại (theo địa chỉ); - Lưu: VP, GĐKT I; HCTP | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Tuấn |