vanban.org

Quyết định 26/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Võ Đức T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Võ Đức T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn."
  • Tòa quyết gì? 2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 04-9-2019
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tấn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Khuyến

Ông Nguyễn Duy Khải

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Duyên – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 183/2019/TLST-HN&GĐ ngày 07/6/2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST-DS ngày 23/8/2019, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1970 (có mặt)

- Bị đơn: Ông Võ Đức T, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn PH, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện PL, tỉnh T ngày 26/7/1991, tổ chức hôn lễ theo đúng quy định pháp luật và phong tục địa phương.

Trong đời sống hôn nhân vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm lo lắng cho cho nhau, hiện tại hai bên đang sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Loan đề nghị Tòa án được ly hôn với ông Tài.

+ Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, bà L và ông T có 04 con chung là cháu Võ Thị Diệu L, sinh ngày 04/3/1992; cháu Võ Thị Diệu L sinh ngày 12/01/1994; cháu Võ Đức Ng sinh ngày 05/8/2001; cháu Võ Đức Phong Ph, sinh ngày 16/9/2002. Khi ly hôn, hai bên đương sự tự thỏa thuận về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Võ Đức T trình bày: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Đức T đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông Tài vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

- Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh loan vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị được ly hôn với ông Võ Đức T.

Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Đức T cùng trú tại Thôn Phú Hưng, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án hôn nhân gia đình về việc “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Võ Đức T.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L thấy rằng:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Loan, ông Tài tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện PL, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 26/7/1991. Như vậy hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình.

- Về mâu thuẫn gia đình:

Bà L cho rằng trong đời sống hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm lo lắng cho nhau, hiện tại đang sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L đề nghị được ly hôn với ông T.

Mặc dù, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Võ Đức T không có ý kiến trình bày về tình trạng hôn nhân. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của nguyên đơn bà L, lời khai của con chung của bà L ông T là cháu Võ Thị Diệu L và cháu Võ Đức Phong Ph, kết quả xác minh tại địa phương có cơ sở xác định, đời sống hôn nhân của bà L, ông T có nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn là trầm trọng, vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai, không còn thương yêu lẫn nhau, cả Bà L, ông T đều không có giải pháp để khắc phục, cải thiện cuộc sống vợ chồng dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; bà L, ông T hiện đã sống ly thân. Như vậy, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu của bà L được ly hôn với ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, bà L và ông T có 04 con chung là cháu Võ Thị Diệu L, sinh ngày 04/3/1992; cháu Võ Thị Diệu L sinh ngày 12/01/1994; cháu Võ Đức Ng sinh ngày 05/8/2001; cháu Võ Đức Phong Ph, sinh ngày 16/9/2002. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 217; Điều 218; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Võ Đức T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Võ Đức T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 027085, quyển số 0542, ngày 07/6/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bình Phước.

3/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định./.

Cỡ chữ