vanban.org

Quyết định 2584/2023/QĐST — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/07/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh Ng với bà Nguyễn Thị Bội Tr. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1097/2023/QĐST-HNGĐ Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Anh

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí

Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết yêu cầu công nhận thuận

tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự thụ lý số 526/2022/TLST - HNGĐ

ngày 21/10/2022 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết

định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 2584/2023/QĐST-

HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau

đây:

Người yêu cầu:

- Ông Vĩnh N, sinh năm 1956 (có đơn xin vắng mặt)

Thường trú: Căn hộ 2.3 Ruby 1, khu chung cư SP, 92 Nguyễn H,

Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Landmark 4 – 08.03, VCP, 208 Nguyễn Hữu C, Phường A,

quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Ngô Thị Quỳnh Ng, sinh năm 1969 (có đơn xin vắng mặt)

Thường trú: 24 Bà Huyện Thanh Q, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Địa chỉ: Landmark 4 – 08.03, VCP, 208 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường A,

quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Bội Tr, sinh năm 2000 (có đơn xin

vắng mặt)

Thường trú: 24 Bà Huyện Thanh Q, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Địa chỉ: Canada.

Tạm trú: Landmark 4 – 08.03, VCP, 208 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường A,

quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 39/25 Nguyễn Tr, phường Th, Quận F, Thành phố Hồ Chí

Minh.

- Bà Ngô Thị Quỳnh Xuân, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 18/6 T1, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ VIỆC:

Theo Đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đề ngày 13/7/2022 và

Bản tự khai - Người yêu cầu – ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh Ng trình bày:

Ông Nguyễn Trọng H và và Ngô Thị Quỳnh Xuân là cha mẹ đẻ của trẻ

Nguyễn Thị Bội Tr theo Giấy khai sinh số 135, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/10/2000. Năm 2014, ông N và bà Ng nhận trẻ Tr làm con nuôi theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 09/7/2014. Biên bản giao nhận con nuôi lập ngày 09/7/2014 tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay trẻ Tr đã thành niên căn cứ theo quy định của pháp luật Việt N và không còn ở chung với với ông N và bà Ng nữa. Trẻ Tr hoàn toàn khỏe mạnh và có cuộc sống độc lập không phụ thuộc ông N và bà Ng nên ông bà có nguyện vọng chấm dứt việc nuôi con nuôi căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010.

Theo Bản tự khai ngày 23/5/2023 được Phòng công chứng số 2, Thành phố

Hồ Chí chứng nhận – Người bị yêu cầu - Bà Nguyễn Thị Bội Tr trình bày: Bà là con đẻ của ông Nguyễn Trọng H và và Ngô Thị Quỳnh Xuân theo Giấy khai sinh số 135, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/10/2000. Năm 2014, ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh Ng nhận bà làm con nuôi theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 09/7/2014. Biên bản giao nhận con nuôi lập ngày 09/7/2014 tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, bà đã 22 tuổi là đã thành niên căn cứ theo quy định của pháp luật Việt N và không còn ở chung với với ông N và bà Ng nữa. Bà hoàn toàn khỏe mạnh, tỉnh táo, minh mẫn và có cuộc sống độc lập không phụ thuộc vào cha mẹ nuôi. Do đó, bà đồng ý với yêu cầu của ông N và bà Ng, yêu cầu chấm dứt việc nuôi

con nuôi căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm

2010.

Theo Bản tự khai ngày 10/02/2023 được Văn phòng công chứng Phạm

Xuân Thọ, Thành phố Hồ Chí chứng nhận – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan - Ông Nguyễn Trọng H trình bày: Ông đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc

nuôi con nuôi giữa ông Vĩnh N, bà Ngô Thị Quỳnh Ng với bà Nguyễn Thị Bội

Tr do con nuôi đã thành niên và các bên tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Theo Bản tự khai ngày 13/02/2023 được Văn phòng công Châu Á, Thành

phố Hồ Chí chứng nhận – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Ngô Thị

Quỳnh Xuân trình bày: Bà đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa

ông Vĩnh N, bà Ngô Thị Quỳnh Ng với bà Nguyễn Thị Bội Tr do con nuôi đã

thành niên và các bên tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

* Các đương sự có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý

kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và các đương

sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải

quyết việc dân sự. Các đương sự đều có đơn đề nghị giải quyết việc dân sự

vắng mặt, nên Tòa án tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự

là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về giải quyết việc dân sự: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Vĩnh N

và bà Ngô Thị Quỳnh Ng.

- Về lệ phí sơ thẩm: Ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh Ng phải chịu lệ

phí giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự

được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp,

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Ngày 13/7/2022, ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh Ng có đơn yêu cầu

chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với bà Nguyễn Thị Bội Tr. Người bị yêu cầu

là bà Nguyễn Thị Bội Tr hiện đang cư trú tại Canada, nên căn cứ vào khoản 2

Điều 29; khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về yêu cầu giải quyết việc dân sự vắng mặt:

Các đương sự có đơn đề nghị giải quyết việc dân sự vắng mặt, nên căn

cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Căn cứ Giấy khai sinh số 135, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường 6,

Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/10/2000; Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh vào sổ đăng ký nuôi con nuôi ngày 09/7/2014; Biên bản giao nhận con nuôi lập ngày 09/7/2014 tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh và lời khai thống nhất của các đương sự, có đủ cơ sở xác định, bà Nguyễn Thị Bội Tr là con đẻ của ông Nguyễn Trọng H và bà Ngô Thị Quỳnh Xuân. Năm 2014, ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh Ng đã nhận bà Tr làm con nuôi. Nay bà Tr đã thành niên, hoàn toàn khỏe mạnh, tỉnh táo, minh mẫn và có cuộc sống độc lập không phụ thuộc vào cha mẹ nuôi và các đương sự cũng thống nhất yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 25, Điều 26 và Điều 27 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh Ng mỗi người phải chịu lệ phí sơ thẩm là 150.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37,

khoản 2 Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 25, Điều 26 và Điều 27 của Luật nuôi con nuôi

năm 2010;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Vĩnh N và bà Ngô Thị Quỳnh

Ng với bà Nguyễn Thị Bội Tr.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày

quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Vĩnh N và bà Ngô Thị

Quỳnh Ng mỗi người phải chịu lệ phí sơ thẩm là 150.000 (một trăm năm

mươi nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng

tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0003206 ngày 17/10/2022

của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Vĩnh N và bà Ngô

Thị Quỳnh Ng đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự

trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết

việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc

dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có

quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra

quyết định.

Cỡ chữ