vanban.org

Quyết định 257/2018/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 25/07/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Người khởi kiện ông Võ Văn G phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí phúc thẩm. Ông G đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001268 ngày 02/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Ông Võ Văn G kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Long An, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã K, Ủy ban nhân dân xã T, thị xã K về việc “Khiếu ki…"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 257/2018/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 7 năm 2018.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Trương Văn Bình

Ông Đỗ Đình Thanh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

04/2017/QĐST-HC ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã căn cứ vào điểm g khoản 1, Điều 143 của

Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

- Người khởi kiện: Ông Võ Văn G, sinh năm 1937;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn G1, sinh năm 1975;

Cùng địa chỉ: Khu phố 1, Phường 2, thị xã K, tỉnh Long An.

- Người bị kiện:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn L – Phó Chủ tịch Ủy ban

nhân dân tỉnh Long An.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã K;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông La Văn D – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân

dân thị xã K;

3. Ủy ban nhân dân xã T, thị xã K;

Tại đơn kháng cáo ngày 29 tháng 3 năm 2018 của người khởi kiện ông Võ

Văn G với lý do: Trước đây ông G đã từng nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An, do hồ sơ và đơn khởi kiện không đúng theo mẫu quy định nên Tòa án hướng dẫn cho ông làm lại nhưng vì bệnh, đi lại khó khăn nên không thể nộp trực tiếp cho Tòa án. Sau đó Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã nhận đơn và thụ lý vụ án, rồi căn cứ theo Điều 116 Luật tố tụng hành chính với lý do “Đến ngày 15/11/2017 ông G mới nộp đơn khởi kiện đến Tòa án theo đường bưu chính là hết thời hiệu 1 năm” là chưa thỏa đáng. Nộp kèm với đơn kháng cáo là các tài liệu về quá trình điều trị bệnh của ông G (giấy ra viện ngày 12/4/2017), để chứng minh cho việc khởi kiện trễ hạn so với quy định. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính, lý do kháng cáo của ông Võ Văn G không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho ông G không thể thực hiện quyền khởi kiện theo quy định. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông G, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2017/QĐST-HC ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

XÉT THẤY:

Ông Võ Văn G khởi kiện yêu cầu: Hủy Quyết định số 528/QĐ-CTUBND ngày 07/3/2016 của Chủ tịch UBND thị xã K về việc giải quyết khiếu nại của ông G; Hủy Quyết định số 3719/QĐ-UBND ngày 13/9/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Long An về việc giải quyết khiếu nại của ông Võ Văn G; Yêu cầu UBND xã T, thị xã K trả lại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 8, tọa lạc ấp 3, xã T; Yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn G đối với thửa đất số 172, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp 3, xã T. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ người khởi kiện, người bị kiện cung cấp thể hiện: Ngày 10/3/2016, ông Võ Văn G nhận được Quyết định số 528/QĐ-CTUBND ngày 07/3/2016 của Chủ tịch UBND thị xã K về việc giải quyết trường hợp khiếu nại của ông Võ Văn G. (Bút lục số 132) Ngày 22/9/2016, ông G nhận được Quyết định số 3719/QĐ-UBND ngày 13/9/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Long An về việc giải quyết khiếu nại của ông G. (Bút lục số 103) Ngày 16/11/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Long An nhận được đơn khởi kiện hành chính đề ngày 16/11/2017 với nội dung yêu cầu như đã nêu ở trên qua đường bưu chính. (Bút lục số 05) Ngày 13/3/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Long An ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2017/QĐST-HC đối với hồ sơ thụ lý số 04/2018/TLST-HC ngày 03/01/2018. Lý do, tính đến ngày người khởi kiện làm đơn khởi kiện nộp đến Tòa án là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/3/2018 ông Võ Văn G có đơn kháng cáo đối Quyết định đình chỉ

giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2017/QĐST-HC ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Qua xem xét hồ sơ một cách toàn diện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ông Võ Văn G không khởi kiện các quyết định hành chính nêu trên trong

thời hạn luật định, các lý do nêu trong đơn kháng cáo và các tài liệu nộp kèm theo đơn không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được theo quy định tại khoản 4 Điều 3, khoản 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Ngoài ra ông không nộp thêm tài liệu nào chứng minh cho lý do kháng cáo

của mình để Hội đồng xét xử xem xét.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

hành chính sơ thẩm số 04/2017/QĐST-HC ngày 13 tháng 3 năm 2018 là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên quyết định nêu trên.

Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

2. Người khởi kiện ông Võ Văn G phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng

tiền án phí phúc thẩm. Ông G đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001268 ngày 02/4/2018.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ