- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Đinh yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN TỈNH BĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 255/2021/QĐST-DS | HN, ngày 20 tháng 8 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH BĐ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Vinh
Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên họp: Ông Trương Văn Đình - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 151/2021/TLST-DS ngày 04 tháng 02 năm 2021 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 186/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng dưới đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1948; địa chỉ: Khu phố GH2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phùng Thị Ch, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố GH2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.
+ Bà Phùng Thị S, sinh năm 1971; địa chỉ: Khu phố AD2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.
+ Bà Phùng Thị G, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu phố ĐĐ1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.
(Bà Đ, bà Ch, bà S, bà G vắng mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu và các lời khai trong quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị Đ khai:
Chồng của bà là ông Phùng L, sinh năm 1944; có nơi cư trú nay là khu phố GH2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ. Ông L và bà có chung 03 người con là bà Phùng Thị Ch, bà Phùng Thị S, bà Phùng Thị G. Cha, mẹ của ông L đều đã chết từ trước năm 1970. Trước năm 1975 ông L bị bắt đi lính cho chế độ Sài Gòn và biệt tích trong chiến tranh. Kể từ khi chiến tranh kết thúc ngày 30/4/1975 cho đến nay bà không có tin tức gì xác thực là ông L còn sống. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông L là người đã chết theo quy định của pháp luật. Bà Đ có Đơn xin đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, vì bận công việc làm ăn nên không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng được.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Các bà Phùng Thị Ch, bà Phùng Thị S, bà Phùng Thị G vắng mặt tại phiên họp, nhưng trong quá trình tố tụng các bà đều khai: Đồng ý như yêu cầu của bà Đ, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông L là người đã chết theo quy định của pháp luật. Tất cả đều có Đơn xin đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, vì bận công việc làm ăn nên không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng được.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã HN phát biểu ý kiến, về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, của đương sự trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp là thực hiện đúng qui định của pháp luật và đề nghị Tòa án: Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Đ, tuyên bố ông L là người đã chết và ngày chết là ngày 01/5/1980. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, bà Đ là người cao tuổi nên được miễn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã HN nhận định:
Về tố tụng:
Đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo qui định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu là ông Phùng L có nơi cư trú cuối cùng là khu phố GH2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ. Do đó việc dân sự này Tòa án nhân dân thị xã HN thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Đ, bà Ch, bà S, bà G đều có Đơn xin đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại Điều 367 Tòa án vẫn tiến hành phiên họp vắng mặt họ.
Về nội dung:
Theo đơn yêu cầu và các lời khai của bà Đ, bà Ch, bà S, bà G thì trước năm 1975 ông L bị bắt đi lính cho chế độ Sài Gòn và biệt tích trong chiến tranh. Kể từ khi chiến tranh kết thúc ngày 30/4/1975 cho đến nay không ai có tin tức gì xác thực là ông L còn sống. Nay tất cả đều đồng ý với yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông L là người đã chết theo quy định của pháp luật.
Sự việc này bà Đ đã làm Đơn xin xác nhận ngày 27/7/2020 và đã được Công an phường HT xác nhận là đúng sự thật. Về thông báo, tìm kiếm đã được áp dụng đầy đủ các biện pháp theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực ông L còn sống.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Đ, tuyên bố ông L là người đã chết và ngày chết được xác định là ngày 01/5/1980 (ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn 05 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc) là có căn cứ và đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Đ là người cao tuổi nên được miễn là đúng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Theo quy định tại khoản 2 Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà Đ phải chịu, bà đã nộp đủ và chi phí xong.
Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên họp về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp với nhận định của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 385, khoản 3 Điều 367, Điều 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ. Tuyên bố ông Phùng L, sinh năm 1944; có nơi cư trú cuối cùng tại khu phố GH2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ là người đã chết và ngày chết là ngày 01 tháng 5 năm 1980.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Đ là người cao tuổi nên được miễn.
- Chi phí đăng tin thông báo tìm kiếm thông tin người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu, bà đã nộp đủ và chi phí xong.
Bà Đ, bà Ch, bà S, bà G có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được nhận hoặc được niêm yết tại Ủy ban nhân phường HT; Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BĐ có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, để Toà án nhân dân tỉnh BĐ giải quyết lại theo trình tự phúc thẩm.
Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự đối vối những quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSND thị xã HN; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Nguyễn Văn Vinh |